Bài học cho luật sư khi ký hợp đồng dịch vụ pháp lý

Ngày 27/12/2016, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử sơ thẩm vụ tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa nguyên đơn là ông Trần Thanh Toàn, ở tỉnh Trà Vinh với bị đơn là Luật sư NTBX thuộc Đoàn luật sư tỉnh An Giang.

Theo ông Trần Thanh Toàn thì em trai của ông bị các cơ quan tố tụng huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang khởi tố, truy tố về hành vi buôn bán hàng cấm. Vì vậy, ngày 6/8/2014, ông gặp Luật sư X thuộc Văn phòng Luật sư TB, Đoàn luật sư tỉnh An Giang để nhờ Luật sư X bào chữa cho em ông. Luật sư X nhận lời và hai bên đã ký hợp đồng dịch vụ pháp lý có nội dung: Luật sư  X bào chữa cho em trai ông Toàn với mức thù lao là 120 triệu đồng. Tại Điều 5 của hợp đồng quy định về “chấm dứt hợp đồng” có ghi: “Hợp đồng chấm dứt khi thực hiện xong Điều 1 được giải quyết bằng văn bản pháp lý là bản án sơ thẩm”. Tuy nhiên, do bản hợp đồng đánh máy không có từ “án treo” nên ông Toàn không đồng ý ký. Sau đó Luật sư X viết tay thêm từ “án treo” vào sau cụm từ “bản án sơ thẩm” tại Điều 5 của hợp đồng nên ông Toàn mới đồng ý ký. Sau khi ký hợp đồng, ông Toàn đã giao tiền cho Luật sư X hai lần, tổng cộng là 80 triệu đồng. Số tiền còn lại 40 triệu đồng, hai bên thỏa thuận khi ông Toàn nhận được bản án sơ thẩm thì Luật sư X sẽ nhận nốt tiền.

b9atu-van-phap-luat-19-594322b3470c3

Ảnh minh họa


Tháng 11/2014, Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên xử sơ thẩm đã phạt em trai ông Trần Thanh Toàn một năm sáu tháng tù giam.

Vì em trai mình không được hưởng án treo nên ông Toàn cho rằng Luật sư X không thực hiện đúng nội dung hợp đồng. Do đó, ông Toàn khởi kiện Luật sư X ra Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang và yêu cầu Luật sư X phải hoàn trả cho ông 68 triệu đồng, còn 12 triệu đồng ông Toàn đồng ý chi cho Luật sư X để đi lại, xăng xe…

Mặc dù tại phiên tòa, Luật sư X thừa nhận có nhận lời bào chữa cho em trai ông Toàn, hợp đồng dịch vụ nêu trên được ký giữa Luật sư và ông Trần Thanh Toàn, nhưng khẳng định không thỏa thuận kết quả án treo như ông Toàn trình bày. Sở dĩ Luật sư X. có ghi thêm từ “án treo” vào hợp đồng là do ông Toàn yêu cầu và để trấn an tinh thần cho mẹ của ông. Luật sư X cho rằng mình có sơ suất khi không hủy hợp đồng trên mà lại tin vào thỏa thuận miệng để ghi thêm từ “án treo” vào hợp đồng.

Theo Luật sư  X, ngoài hợp đồng đã ký với ông Trần Thanh Toàn thì hai bên còn thỏa thuận miệng có một số người chứng kiến. Luật sư X đề nghị Tòa án hoãn phiên tòa để triệu tập thêm những người làm chứng. Yêu cầu của Luật sư X được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, từ ngày 8/4/2016 đến ngày 27/12/2016 Luật sư X không cung cấp được địa chỉ nhân chứng để Tòa triệu tập.

Về số tiền, Luật sư X khai đã dùng 50 triệu đồng để lo làm thủ tục cho em trai ông Toàn được tại ngoại theo quy định của pháp luật, còn lại 30 triệu đồng chi phí bào chữa cho em trai ông Toàn tại phiên tòa sơ thẩm. Luật sư X cho rằng, mình đã làm hết trách nhiệm nên không đồng ý với yêu cầu của ông Toàn.

Với các tình tiết như trên, Hội đồng xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cho rằng, thỏa thuận giữa ông Toàn và Luật sư X về việc Luật sư X nhận bào chữa cho em trai ông để Tòa án xử án treo là đúng sự thật. Bởi lẽ, Điều 5 bản hợp đồng dịch vụ pháp lý có ghi “Hợp đồng chấm dứt khi thực hiện xong vụ việc theo Điều 1 được giải quyết bằng văn bản pháp lý là bản án sơ thẩm án treo”. Việc Luật sư nói phải ghi án treo để ông Toàn trấn an tinh thần cho mẹ của ông Toàn là không có căn cứ vì ông Toàn không thừa nhận. Việc Luật sư X cho rằng, số tiền nhận trước 50 triệu đồng là để lo cho em trai ông Toàn tại ngoại, còn 30 triệu đồng nhận thêm là để bào chữa chứ không hứa kết quả án treo, nhưng ngoài lời khai của Luật sư X thì không còn chứng cứ nào khác để chứng minh lời khai này là đúng sự thật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Việc Luật sư X yêu cầu hoãn phiên tòa để triệu tập người làm chứng và Tòa án đã yêu cầu Luật sư X cung cấp địa chỉ của họ nhưng Luật sư X không làm nên Tòa không chấp nhận yêu cầu hoãn phiên tòa nữa.

Hội đồng xét xử kết luận việc Luật sư X thỏa thuận bào chữa cho em trai ông Toàn trong vụ án hình sự để tòa xử cho em trai ông Toàn được hưởng án treo với giá 120 triệu đồng đã vi phạm điểm 14.11 Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam, vi phạm khoản 2 Điều 5 Luật Luật sư. Hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa ông Toàn với Luật sư X đã vi phạm điều cấm của pháp luật, không thỏa mãn Điều 122 Bộ luật Dân sự.

Từ nhận định trên, phiên tòa kết luận: Hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa ông Trần Thanh Toàn với Luật sư X là hợp đồng vô hiệu nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Do đó, Luật sư X phải có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 80 triệu đồng đã nhận cho ông Toàn. Tuy nhiên, phía ông Toàn đồng ý trả chi phí đi lại cho Luật sư X là 12 triệu đồng. Đây là sự tự nguyện của ông Toàn,Tòa ghi nhận.

Trong bài viết này, chúng tôi không có ý bình luận về quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đúng sai như thế nào, vì Luật sư X đã kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm để Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm, mà chỉ muốn qua sự việc này, các luật sư cần rút ra bài học cho mình khi hành nghề, cũng như khi ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý cần phải tuân theo các quy định của pháp luật và cẩn trọng. Người xưa từng có câu “bút sa gà chết”. Hơn nữa, khi luật sư viết thêm vào bản hợp đồng, dù với động cơ, mục đích gì thì cũng phải lường trước được hậu quả của hành vi mà mình thực hiện, chưa kể nội dung viết thêm vào hợp đồng lại vi phạm Quy tắc đạo đức nghề nghiệp thì lại càng tối kỵ. Còn nữa, khi lý giải về khoản tiền 80 triệu đồng, Luật sư X còn khai rằng: “đã dùng 50 triệu đồng để lo cho em ông Toàn tại ngoại”. Cách lý giải này làm cho người ta nghĩ ngay đến việc luật sư “chạy án”! Tòa án cấp sơ thẩm đã kết luận là không có căn cứ, nếu Tòa lại cho rằng có dấu hiệu của tội phạm (đưa và nhận hối lộ) rồi chuyển vụ việc sang cơ quan điều tra thì không biết hậu quả sẽ như thế nào?

Là luật sư, khi ký hợp đồng dịch vụ pháp lý cần phải đọc kỹ các quy định của pháp luật cũng như các quy định về đạo đức nghề nghiệp: không được cam kết bảo đảm kết quả vụ việc nhằm mục đích lôi kéo khách hàng hoặc để tính thù lao theo kết quả cam kết (điểm 14.11 Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam). Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện: mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội (khoản 1Điều 122 Bộ luật Dân sự).

                                                                                                               Luật sư Đinh Văn Quế

Theo Luật sư Việt Nam
2.174