Các nguyên tắc trong hoạt động xây dựng pháp luật

Xây dựng pháp luật là một hoạt động cơ bản của nhà nước, việc nhà nước xây dựng được các văn bản quy phạm pháp luật phản ánh được hiện thực khách quan, ý chí của đông đảo quần chúng nhân dân. Qua đó, để pháp luật trở thành một công cụ đích thực trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và quản lý nhà nước thì đó là một hệ thống pháp luật toàn diện. Để có một hệ thống pháp luật toàn diện, phải xác định được những nguyên tắc chỉ đạo, định hướng trong việc xây dựng pháp luật và các nguyên tắc này phải luôn luôn được đảm bảo, được sử dụng làm kim chỉ nam trong hoạt động xây dựng pháp luật, hay nói cách khác, hoạt động xây dựng pháp luật luôn phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định.

Xây dựng pháp luật là quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định nhằm ban hành ra các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích của nhà nước. Xây dựng pháp luật là một quá trình hoạt động vì nó bao gồm nhiều hoạt động, từ việc thừa nhận các quy phạm xã hội có sẵn, các án lệ đến việc sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật và xây dựng, ban hành ra các quy phạm pháp luật mới.

Nguyên tắc xây dựng pháp luật là hệ thống các tư tưởng, quan điểm mang tính chỉ đạo, phản ánh khái quát những sự việc khách quan liên quan trong quá trình xây dựng pháp luật, đòi hỏi các nhà làm luật phải tuân theo. Đây là những cơ sở quan trọng của toàn bộ quá trình xây dựng pháp luật, đòi hỏi tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình ban hành, sửa đổi hay bãi bỏ các qui phạm pháp luật phải nghiêm chỉnh tuân theo. Việc đáp ứng các nguyên tắc là những yêu cầu cơ bản, đầu tiên, cốt lõi trong hoạt động xây dựng pháp luật, nhằm định hướng cho việc xây dựng một hệ thống pháp luật chuẩn mực.

Theo quy định tại Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 thì nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật gồm có:

1. Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật.

2. Tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

3. Bảo đảm tính minh bạch trong quy định của văn bản quy phạm pháp luật.

4. Bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ thực hiện của văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm yêu cầu cải cách thủ tục hành chính.

5. Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

6. Bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Tuy nhiên, việc xác định các nguyên tắc xây dựng pháp luật phải vừa xuất phát từ thực tế khách quan, từ đường lối chính trị của đất nước vừa xuất phát từ bản chất, vai trò của pháp luật để đảm bảo việc thể hiện đầy đủ ý chí và lợi ích của nhà nước, nhân dân trong các qui định pháp luật. Vì vậy, để hoạt động xây dựng pháp luật bảo đảm được thể chế hóa đúng chủ trương, đường lối của Đảng, đáp ứng yêu cầu hợp pháp, hợp với thực tiễn… thì hoạt động xây dựng pháp luật phải tuân theo các nguyên tắc sau: Nguyên tắc khách quan; Nguyên tắc đảm bảo được sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; Nguyên tắc khoa học; Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; Nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa; Nguyên tắc bảo đảm sự hài hoà và đồng thuận về lợi ích giữa các lực lượng xã hội; Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi của các quy định pháp luật.

Nguyên tắc khách quan trong hoạt động xây dựng pháp luật

Nguyên tắc khách quan trong hoạt động xây dựng pháp luật là việc xây dựng pháp luật phản ánh được hiện thực khách quan; thể hiện ở chỗ pháp luật phải phù hợp với điều kiện kinh tế, điều kiện xã hội, trình độ dân trí, điều kiện quốc tế và xu hướng phát triển của thời đại, để từ đó, pháp luật trở thành công cụ để điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản, là khuôn mẫu hành vi mang tính chất chuẩn mực, những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung mà mọi cá nhân tổ chức trong xã hội phải tuân theo, là phương tiện có hiệu lực nhất để điều chỉnh các mối quan hệ cơ bản giữa người với người, các lợi ích, nhu cầu của các giai cấp tầng lớp xã hội khác nhau, bảo vệ trật tự xã hội cộng đồng, điều tiết các quan hệ văn hoá, giáo dục, xã hội, khoa học công nghệ theo hướng tiến bộ phù hợp với sự phát triển của đất nước, đem lại lợi ích tối đa cho xã hội.

Bảo đảm tính khách quan là đặc trưng cơ bản trong mọi hoạt động của nhà nước, nhằm đảm bảo sự cân đối hợp lý không mâu thuẫn của sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội. Vì vậy, hoạt động xây dựng pháp luật phải dựa trên nguyên tắc khách quan mới bảo đảm sự kịp thời và phù hợp với yêu cầu vận động và phát triển của xã hội. Bất cứ một xã hội nào thì việc xây dựng pháp luật cũng đều phải dựa trên quy luật khách quan, trình độ của hệ thống pháp luật phải phù hợp với trình độ phát triển của kinh tế xã hội. Hệ thống pháp luật phải phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế xã hội, nó không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó. Đồng thời, pháp luật cũng sinh ra do nhu cầu thực tế của xã hội của xã hội do đó, nó phải phản ánh đúng nhu cầu khách quan của xã hội, xuất phát từ thực tế cuộc sống, phù hợp với thực tế cuộc sống và dựa trên lợi ích của nhân dân. Do vậy, nội dung của các quy định pháp luật phải phù hợp với các quy luật khách quan, bảo đảm phát huy vai trò tích cực của pháp luật đối với đời sống xã hội. Nếu không dựa trên cơ sở khách quan thì sẽ không xây dựng được hệ thông pháp luật đúng nghĩa, pháp luật không được coi là xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và quan trọng hơn, nó làm mất đi chức năng điều tiết xã hội của pháp luật.

Nguyên tắc khách quan được xem là một nguyên tắc quan trọng trong hoạt động xây dựng pháp luật. Nếu không đạt được yêu cầu về tính khách quan thì các nguyên tắc khác trong hoạt động xây dựng pháp luật như Nguyên tắc đồng bộ thống nhất, Nguyên tắc pháp chế, Nguyên tắc dân chủ… cũng không được đảm bảo. Nguyên tắc khách quan trong hoạt động xây dựng pháp luật nhằm ban hành ra những quy định pháp luật khách quan, không duy ý trí của bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào, nếu pháp luật không xuất phát từ hiện tại khách quan sẽ không có sự đồng bộ thống nhất giữa hệ thống pháp luật và trình độ phát triển kinh tế; đồng thời, một pháp luật không xây dựng trên cơ sở khách quan sẽ không thể đảm bảo được lợi ích của nhân dân, không đảm bảo được nguyên tức dân chủ.

Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội, xây dựng các chủ trương, chính sách để phát triển xã hội. Do đó, nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam xuất phát từ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội. Đường lối chính sách của Đảng luôn giữ vai trò chỉ đạo đối với nội dung, phương hướng xây dựng pháp luật của nhà nước. Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết, là bảo đảm cao nhất cho sự ra đời tồn tại và phát triển của nhà nước. Mọi hoạt động của nhà nước đều có sự lãnh đạo của Đảng trong đó có hoạt động xây dựng pháp luật đó là yêu cầu có tính khách quan và trở thành nhân tố quyết định hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Hay nói cách khác, hoạt động xây dựng pháp luật là kênh quan trọng nhất mà thông qua đó, chủ trương và chính sách của Đảng được đưa vào đời sống.

Trong công tác xây dựng pháp luật, Đảng lãnh đạo bằng cách đưa ra đường lối đúng đắn và tuỳ thuộc vào hoàn cảnh khách quan của đất nước trong từng giai đoạn cách mạng mà có những chủ trương, biện pháp cho phù hợp từ đó nhà nước có cơ sở cho việc cụ thể hoá thành những quy định pháp luật. Muốn vậy Đảng phải nắm chắc qui luật khách quan của sự vận động và phát triển xã hội, thực trạng của nền kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội trong nước và những quan hệ đối ngoại thì đường lối của Đảng được đề ra sẽ luôn có tính khoa học, phù hợp với quy luật phát triển xã hội và dễ được thực hiện nhất.

Đảng thông qua nhà nước đào tạo và tuyển chọn những người có đức, tài, có năng lực vào các cơ quan nhà nước, có đủ năng lực chuyên môn và trình độ pháp lý làm công tác xây dựng pháp luật. Những người này được Đảng giao phó và nhân dân tín nhiệm, là cầu nối liền giữa Đảng và nhà nước ở các cấp, có khả năng nắm chắc đường lối chủ trương của Đảng, biết thể chế hoá một cách đúng đắn đường lối chủ trương đó thành pháp luật của nhà nước.

Thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước, Đảng kiểm tra giám sát nắm tình hình và đánh giá các hoạt động xây dựng pháp luật của nhà nước, góp ý kiến cho nhà nước sửa chữa những lệch lạc thiếu sót trong công tác này. Thông qua công tác này Đảng còn kiểm tra, kiểm nghiệm được sự đúng đắn của các chính sách của Đảng trong hoạt động của nhà nước để có sự điều chỉnh cho phù hợp.

Đảng lãnh đạo nhân dân tham gia đóng góp ý kiến vào quá trình xây dựng pháp luật, kiểm tra, giám sát các hoạt động của nhà nước, tạo mọi điều kiện cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình về mọi mặt.

Nguyên tắc dân chủ trong hoạt động xây dựng pháp luật

Nguyên tắc dân chủ trong hoạt động xây dựng pháp luật được hiểu là sự tham gia của nhân dân lao động và các tổ chức xã hội vào hoạt động xây dựng pháp luật. Đây là một nguyên tắc đòi hỏi trong quá trình xây dựng pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền phải tạo điều kiện cho nhân dân có thể tham gia một cách đông đảo và rộng rãi vào quá trình thảo luận các quy phạm pháp luật dự thảo, phải đề cao tầng lớp nhân dân lao động và các tổ chức của họ trong hoạt động xây dựng pháp luật và giải quyết những vấn đề của hoạt động đó. Điều này nhằm làm cho pháp luật thể hiện được ý chí, nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, phát huy được trí tuệ của đông đảo tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội và hoạt động xây dựng pháp luật, để pháp luật trở nên gần gũi hơn với nhân dân. Mặt khác, nguyên tắc này cũng tạo điều kiện cho nhân dân tìm hiểu và hiểu được nội dung các quy định của pháp luật, nhất là các quy định có liên quan tới các hoạt động hàng ngày của họ, nhờ đó góp phần làm cho pháp luật được thực hiện nghiêm túc hơn, đồng thời nâng cao hơn ý thức pháp luật của nhân dân.

Nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa, mang bản chất giai cấp công nhân, đại diện cho lợi ích và ý chí của nhân dân lao động. Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân. Quyền lực, lợi ích thuộc về nhân dân, sức mạnh và quyền lực đều nằm trong dân. Đó chính là cơ sở chính trị chứng tỏ dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xây dựng pháp luật Việt Nam. Do đó, nhân dân có quyền làm chủ, có quyền được tham gia vào tất cả các hoạt động xây dựng nhà nước, xây dựng pháp luật. Việc tham gia vào xây dựng pháp luật cũng là cách nhân dân phát huy vai trò làm chủ, tích cực chủ động trong hoạt động quản lý xã hội của mình. Quần chúng, nhân dân càng tham gia rộng rãi và tích cực vào công việc xây dựng pháp luật thì các quy định pháp luật càng đảm bảo đầy đủ và toàn diện hơn lợi ích, ý nguyện của họ. Sự tham gia của nhân dân vào quá trình xây dựng pháp luật sẽ là điều kiện để đảm bảo sự thực hiện pháp luật nghiêm minh và có hiệu quả sau này. Nhân dân tham gia xây dựng pháp luật bằng nhiều hình thức khác nhau như bầu các đại biểu tham gia hoạt động vào các cơ quan nhà nước các đại biểu này có quyền quyết định những vấn đề cơ bản của công tác xây dựng pháp luật. Thông qua các tổ chức xã hội thực hiện phản biện dự án luật, đóng góp ý kiến cho cơ quan, tổ chức để trình dự án luật (đóng góp ý kiến bằng miệng, bằng văn bản; phát biểu ở các hội nghị, viết bài cho báo chí; gửi thư điện tử...).

Để đảm bảo được nguyên tắc dân chủ trong hoạt động xây dựng pháp luật phải thực hiện tốt việc nâng cao dân trí trong xã hội, mở rộng các kênh truyền thông về pháp luật, cần có chủ trưởng triển khai các cuộc vận động, tuyên truyền một cách cụ thể về nguyên tắc dân chủ trong hoạt động xây dựng pháp luật, tăng cường lấy ý kiến nhân dân trong các dự thảo văn bản pháp luật. Như vậy, ý chí và nguyện vọng của nhân dân mới thực hiện được rõ rệt, từ đó nhá nước mới có thể vì nhân dâ phục vụ tốt hơn. Đồng thời, phải công khai các hoạt động lập pháp. Các đại biểu Quốc hội phải là đại biểu cho toàn dân. Ý kiến của đại biểu thiểu số phải được ghi lại và công bố cho cử tri, để cho cử tri biết được đại biểu mà họ bầu lên có hoàn thành nhiệm vụ và bảo vệ quyền lợi cho họ không.

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động xây dựng pháp luật

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động xây dựng pháp luật được hiểu là các cơ quan xây dựng pháp luật không được ban hành những văn bản không đúng thẩm quyền của mình, phải tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp và các đạo luật. Các văn bản của cơ quan nhà nước cấp dưới phải phù hợp với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, văn bản dưới luật phải phù hợp với hiến pháp và các văn bản luật, đảm bảo tính thứ bậc của hệ thống văn bản pháp luật.

Như vậy, nguyên tắc pháp chế trong xây dựng pháp luật được thể hiện ở hai nội dung cơ bản:

Một là, tuân thủ thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành pháp luật. Để đảm bảo các quy định pháp luật khi đã được ban hành có giá trị pháp lý, thì chúng phải được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục về nội dung cũng như hình thức. Điều này có nghĩa là các cơ quan nhà nước chỉ được ban hành những văn bản pháp luật phù hợp với thẩm quyền của mình, theo một trình tự thủ tục luật định, với những hình thức qui định trong Hiến pháp và các đạo luật.

Hai là, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật. Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi các quy định pháp luật phải thống nhất với nhau không mâu thuẫn chồng chéo, bảo đảm tính hợp pháp, hợp lý và phải tôn trọng tính tối cao của hiến pháp và các đạo luật về nội dung, thẩm quyền, phạm vi và hình thức thể hiện.

Nguyên tắc khoa học trong hoạt động xây dựng pháp luật

Nguyên tắc này nêu ra yêu cầu về cả nội dung hình thức thể hiện của các quy định pháp luật. Về nội dung các quy định pháp luật phải được xây dựng trên cơ sở những thành tựu khoa học mới nhất, về hình thức bố cục, cấu trúc, cách thức trình bày các quy phạm pháp luật, văn bản pháp luật... phải mang tính khoa học. Hay nói cách khác, các quy định pháp luật phải đảm bảo được kỹ thuật pháp lý. Xây dựng pháp luật trên cơ sở khoa học chính là điều kiện để đảm bảo hiệu lực và hiệu quả thực tế của các văn bản, quy phạm pháp luật

Nguyên tắc khoa học là yêu cầu chung đối với hoạt động xây dựng pháp luật, nó cho phép loại trừ những mâu thuẫn của pháp luật, bảo đảm tính thống nhất giữa các quy định pháp luật. Tính khoa học trong hoạt động xây dựng pháp luật đòi hỏi phải nhận thức đựơc qui luật khách quan của xã hội, biết sử dụng những thành tựu của các ngành khoa học, đặc biệt là khoa học pháp lý, biết phân tích dự đoán đúng đắn các số liệu về kinh tế, kỹ thuật... phục vụ công tác xây dựng pháp luật. Mỗi một quy phạm phải được sắp xếp lôgic, hợp lý, mang tính hệ thống trong văn bản. Nội dung văn bản phải chính xác, biểu đạt rõ ràng, dễ hiểu. Tính khoa học còn được biểu hiện ở kế hoạch xây dựng pháp luật chặt chẽ và có tính khả thi, các hình thức thu thập tin tức, xử lý thông tin, tiếp thu ý kiến của nhân dân, ở việc thông qua, công bố văn bản pháp luật...

Xây dựng pháp luật cần phải dựa trên những luận cứ khoa học đầy đủ, chứ không phải do ý chí chủ quan của các nhà làm luật. Chẳng hạn, các quy định pháp luật về độ tuổi kết hôn đối với nam và nữ là là bao nhiêu nhà làm luật phải xem xét về mặt khoa học, căn cứ vào sự phát triển tâm sinh lý của con người, sự trưởng thành về cả sinh lý lẫn tâm lý con người…

Nguyên tắc đảm bảo sự hài hòa và đồng thuận về lợi ích giữa các lực lượng xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật

Pháp luật phụ thuộc ý chí của nhà nước, xuất phát từ lợi ích nhà nước, giai cấp, dân tộc, nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền ban hành pháp luật. Tuy nhiên, để giữ cho xã hội ổn định, pháp luật được mọi người tôn trọng và thực hiện thì Nhà nước phải luôn chú ý bảo đảm sự hài hoà về mặt lợi ích của các lực lượng khác nhau trong quá trình ban hành pháp luật.

Việc bảo đảm hài hoà về lợi ích giữa các lực lượng xã hội sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với việc thực hiện pháp luật, bảo đảm sự thống nhất ý chí và lợi ích cơ bản giữa các lực lượng xã hội, làm cho xã hội ổn định, đoàn kết và phát triển bền vững.

Khi xây dựng pháp luật đòi hỏi phải cân nhắc được các loại lợi ích của tất cả những đối tượng được văn bản pháp luật điều chỉnh. Đồng thời phải làm sao cho các loại lợi ích không mâu thuẫn, không phủ nhận lẫn nhau, đảm bảo tương đối công bằng xã hội, với tinh thần tất cả vì con người, cho con người.

Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi trong hoạt động xây dựng pháp luật

Khi xây dựng pháp luật luôn phải chú ý để làm sao các quy định pháp luật phải có khả năng thực hiện được trên thực tế. Sự phù hợp với các điều kiện thực tế bảo đảm cho quy định pháp luật có thể thi hành được trên thực tế. Nếu quy định pháp luật không phù hợp với thực tế thì nó sẽ khó được thi hành trong thực tế hoặc được thi hành nhưng kém hiệu quả.

Một số kiến nghị

Như vậy, nguyên tắc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là những cơ sở quan trọng của toàn bộ quá trình xây dựng pháp luật, đòi hỏi tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình ban hành, sửa đổi hay bãi bỏ các qui phạm pháp luật phải nghiêm chỉnh tuân theo.Việc xác định các nguyên tắc xây dựng pháp luật phải vừa xuất phát từ thực tế khách quan, từ đường lối chính trị của đất nước vừa xuất phát từ bản chất, vai trò của pháp luật để đảm bảo việc thể hiện đầy đủ ý chí và lợi ích của nhà nước, nhân dân trong các qui định pháp luật.

Tuy nhiên, dưới sự tác động của hội nhập quốc tế, sự tiến bộ của khoa học công nghệ, thông tin đã khiến các cơ quan nhà nước lúng túng trong xác định chính sách, quy định pháp luật mới để điều chỉnh kịp thời, dẫn đến việc vi phạm các nguyên tắc trong hoạt động xây dựng pháp luật, khiến cho các văn bản đã ban hành phải sửa đổi, bổ sung hoặc bị bãi bỏ rất nhiều. Chất lượng xây dựng văn bản pháp luật không được đảm bảo sẽ ảnh hưởng rất lớn tới nhà nước trong việc quản lý xã hội, có những tác động tiêu cực tới việc bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, phải đảm bảo được chất lượng xây dựng pháp luật thông qua việc đảm bảo các nguyên tắc trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay. Cụ thể:

Thứ nhất, cần xác định “bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng pháp luật” là một nguyên tắc mang tính quyết định trong hoạt động xây dựng pháp luật. Xuất phát từ vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội, là sự bảo đảm chính trị cao nhất đối với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, trong đó có hoạt động xây dựng pháp luật. Hiện nay, tại Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 chưa quy định cụ thể, trực tiếp nguyên tắc và các nội dung về bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong toàn bộ quá trình xây dựng pháp luật, do đó, cần bổ sung nguyên tắc này theo hướng bảo đảm sự phù hợp của nội dung chính sách trong đề nghị, kiến nghị luật, pháp lệnh; sự phù hợp của từng nội dung dự án, dự thảo luật, các văn bản dưới luật với quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng. Đồng thời cần xác định rõ mức độ thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối Đảng về từng vấn đề, từng lĩnh vực đối với các văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ hai, để pháp luật thể hiện được ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân trong xã hội, đồng thời phát huy quyền dân chủ của người dân trong xây dựng pháp luật đòi hỏi cần xây dựng cơ chế giám sát độc lập của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức đối với hoạt động xây dựng pháp luật.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện các quy định về ứng dụng công nghệ thông tin trong xây dựng pháp luật. Thiết lập các phần mềm kết nối để cơ quan, tổ chức và người dân có thể theo dõi toàn bộ tiến trình xây dựng, ban hành một Văn bản quy phạm pháp luật từ giai đoạn đầu lập đề nghị xây dựng Văn bản quy phạm pháp luật đến giai đoạn công bố, kiểm tra xử lý, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, qua đó bảo đảm nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch trong xây dựng pháp luật.

Thứ tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tham gia xây dựng pháp luật, bên cạnh trình độ chuyên môn chuyên ngành thì trình độ chuyên ngành luật cần được chú trọng. Phải tăng cường, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng qua đó góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, tính chuyên nghiệp đối với cán bộ, công chức tại các bộ, ngành, địa phương làm công tác xây dựng chính sách, soạn thảo, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật. Ngoài ra, Nhà nước cần có những giải pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật về xây dựng pháp luật nhằm nâng cao nhận thức của người dân về quyền, trách nhiệm tham gia xây dựng pháp luật. Đó chính là sự chủ động tham gia xây dựng pháp luật của cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp.

Pháp luật ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong xã hội không ngừng hội nhập với sự phát triển của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 như hiện nay, hoạt động xây dựng pháp luật cũng vì thế mà được đẩy mạnh. Việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật để tăng cường hơn nữa sự điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội trong xã hội hiện đại chưa bao giờ trở nên cấp thiết như bây giờ. Do đó, phải đẩy mạnh việc tuân thủ các nguyên tắc trong hoạt động xây dựng pháp luật để pháp luật phát huy được vai trò tối ưu, trở thành công cụ đích thực phục vụ cho việc quản lý xã hội của nhà nước.

==============================================

1. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
2. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình “Lý luận nhà nước và pháp luật” Nxb Công an nhân dân 2009, tr.415 - 417.
3. TS. Dương Thị Tươi, Bảo đảm chất lượng xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay, bài đăng trên tạp chí Lý luận chính trị số 06/2019.
https://moha.gov.vn/danh-muc/bao-dam-chat-luong-xay-dung-phap-luat-o-viet-nam-hien-nay-41242.html

2.019 

Phạm Minh Phát Nguyễn Duy Tín Nguyễn Tuấn Khải Phạm Hữu Sang Nguyễn Đăng Tiến Châu Quốc Bảo Trần Sỹ Xuân Hoàng Võ Minh Tuấn Ngô Vĩnh Phú Phan Song Thế Danh Bùi Thiên Thành Trương Kim Ngương Nguyễn Xuân Việt Tran quang Hanh Nguyễn Trung Thành Nguyễn Duy Bình Phạm Ngô Hoàng Gia Vũ Văn Huân Lưu Vĩnh Lộc Lê Thành Đạt Trần Quang Hanh Dương Văn Hiếu Nguyễn Minh Tuệ Võ Thị Phương Thúy Lữ Thị Diễm Mi Hang Phung Nguyễn Thị Huyền Nha Lê Thị Phương Lan Nguyễn Thu Thùy Quynh Nông Thị Nguyệt Phan Thị Ánh Ngọc Nguyễn Thị Huỳnh Trúc Nguyễn Thị Tố Trinh Nguyễn Thị Thắm Nguyễn Như Mai Nguyễn Lê Phương Uyên Lê Phương Thảo Lâm Bạch Huệ Phương Bùi Vân Anh Nguyễn Thị Hải Anh Nguyễn Bích Ngà Nguyễn Hồng Linh Nguyễn Bình Yến Thanh Trần Thị Lệ Quyên Dương Hạt Điều Nguyễn Hoa Lê Thị Quỳnh Thượng Phúc Hằng PHẠM THỊ HƯỚNG Lê Thị Bích Phượng Đoàn Thị Hoài Huỳnh Anh Thư Phạm Hồng Ngọc Lâm Bạch Huệ Phương Đinh Nguyên Hạnh Đào Xuân Mai Nguyễn Thanh Huyền Nguyễn Thị Minh Thúy Bùi Thị Yến Ngọc Nguyễn Thị Trang Võ Thị Ngọc Tâm Đinh Thị Huế Lê Diệu Bình Hoàng Thúy Hiền Nguyễn Thùy Linh Lê Thị Thanh Tùng Phạm Thị Mỹ Trinh Phan Thụy Gia Nghi Nguyễn Thị Ngọc Huyền Trần Thanh Thảo Mai Thị Bích Thanh Trần Xuân Ánh Lê Thị Thu Hoàng Thị Liễu Nguyễn Thu Vân Nguyễn Ngọc Minh Ân Nguyễn Ngọc Kỳ Duyên Trần Thùy Linh Nguyễn Hà Kiều Anh Nguyễn Thị Thu Hương