Cần đổi mới mô hình phân bổ ngân sách cho giáo dục đại học

Có rất nhiều bên liên quan (đặc biệt các bộ) tham gia vào quá trình phân bổ ngân sách cho các trường đại học. Điều này làm quá trình phân bổ ngân sách trở nên quá phức tạp, đồng thời làm cho quản lý tài chính của GDĐH trở nên manh mún…

Chiều 14/12, tại Hà Nội, Học viện Tài chính tổ chức Hội thảo quốc gia “Cơ sở khoa học và thực tiễn đánh giá hiệu lực, hiệu quả chi NSNN cho giáo dục”, tham dự hội thảo có các nhà khoa học đến từ các bộ, ngành, trường đại học, giảng viên các khoa trong Học viện… GS.TS Nguyễn Vũ Việt, Phó Giám đốc Học viện Tài chính chủ trì hội thảo.
Phân bổ ngân sách cho giáo dục còn phức tạp 
Tham luận tại hội thảo, PGS.TS Hoàng Thị Thuý Nguyệt, Học viện Tài chính cho biết, Chính phủ cam kết dành NSNN cho giáo dục và đào tạo (GD&ĐT), trong đó tập trung ưu tiên cho giáo dục mầm non và phổ thông, đảm bảo đạt tỷ lệ 20% tổng chi NSNN trước năm 2010. Năm 2016, khoảng 10% tổng chi ngân sách GD&ĐT dành cho giáo dục đại học (GDĐH) bao gồm cả học phí. Tuy nhiên, nếu không tính học phí thì GDĐH chỉ còn được nhận 4% tổng chi ngân sách.
Một nghịch lý là trong khi nguồn lực ít ỏi thì cơ chế phân bổ chi trực tiếp cho các trường đại học lại rất phân tán từ các bộ chủ quản và các địa phương. Năm 2016 cả nước có 213 trường đại học, trong đó 153 trường đại học công lập, Bộ GD&ĐT quản lý trực tiếp 48 trường, các bộ khác 80 trường, chính quyền địa phương 23 trường và 2 Đại học Quốc gia trực thuộc Chính phủ.
Theo lý giải của PGS.TS Nguyễn Trường Giang, Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính Hành chính sự nghiệp (Bộ Tài chính), theo số liệu thống kê nhiều năm, Việt Nam có mức đầu tư lên tới 20% cho giáo dục, nhưng ngân sách GDĐH nói riêng còn bất hợp lý, cụ thể tăng hàng năm từ 5-10%. Cách phân bổ này không tạo động lực cho các trường trong việc nâng cao chất lượng đào tạo các ngành cần nhiều chi phí, mặc dù xã hội có nhu cầu cao.
Xác định và đánh giá các tiêu chí để cấp ngân sách là công việc khó khăn và cần phải cân nhắc tới những thay đổi trong lịch sử. Đầu tiên, trong khoảng thời gian 1998 đến 2001, NSNN được phân bổ cho các trường đại học dựa trên phân bổ chỉ tiêu tuyển sinh và chi phí trung bình (ví dụ như 5,2 triệu đồng đến 8 triệu đồng cho sinh viên chính quy đã chính thức là khoản thuộc NSNN).  
 

Thứ hai, từ 2003 đến 2006, với hiệu lực Luật NSNN và Nghị định số 10 về quyền tự chủ tài chính và tính ổn định (ổn định tài chính trong 3 năm), sự khác biệt giữa tuyển sinh diện trong ngân sách và tuyển sinh ngoài NSNN không còn tồn tại và phân bổ ngân sách của Chính phủ không còn dựa trên số lượng tuyển sinh và mức phân bổ đơn vị cho mỗi sinh viên. Thay vào đó, các bộ, cơ quan và chính quyền địa phương sẽ làm việc cùng với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ GD&ĐT để thiết lập số lượng tuyển sinh cho từng cơ quan, bộ, tỉnh. Ngân sách và số lượng tuyển sinh sẽ được tăng lên khoảng 10% mỗi năm.
Thứ ba, từ năm 2007 đến nay, các trường đại học được phép tự thiết lập chỉ tiêu tuyển sinh, chỉ phải tuân theo tiêu chuẩn chất lượng và yêu cầu của Bộ GD&ĐT. Từ năm 2008, NSNN được phân bổ cho đại học ổn định thời gian 3 năm và có điều chỉnh nhỏ hàng năm. Mặc dù Bộ GD&ĐT là cơ quan chịu trách nhiệm với trách nhiệm tổng thể để giám sát sự phát triển của GDĐH, nhưng không có cơ chế nào cho phép Bộ GD&ĐT biết và giám sát việc phân bổ ngân sách thực tế đối với các trường ở các tỉnh và các bộ khác.
“Có rất nhiều bên liên quan (đặc biệt các bộ) tham gia vào quá trình phân bổ ngân sách cho các trường đại học. Điều này làm quá trình phân bổ ngân sách trở nên quá phức tạp, đồng thời làm cho quản lý tài chính của GDĐH trở nên manh mún; do vậy, làm tăng sự trì trệ đối với chính sách ngành khi giới hạn chỉ tiêu tuyển sinh, trong phân bổ ngân sách và xác định các mức học phí cũng như học bổng. Mặc dù Luật GDĐH gần đây nhất đã đưa ra một biện pháp nhằm “loại bỏ sự kiểm soát của các bộ chủ quản” song điều này vẫn chưa được thực hiện”, PGS.TS Nguyễn Trường Giang cho biết.  
Gắn cấp ngân sách chi thường xuyên với kết quả hoạt động
Xuất phát từ những hạn chế, PGS.TS Hoàng Thị Thuý Nguyệt khuyến nghị, cần tái cơ cấu các kênh tài trợ thông qua việc thiết lập một tổ chức tài trợ hợp nhất, theo tinh thần của Nghị định 16/2015/NĐ-CP, các trường đại học sẽ phải phấn đấu để nâng cao mức độ tự chủ tài chính, tiến tới ít nhất cũng sẽ tự chủ hoàn toàn về chi thường xuyên. Học phí sẽ được điều chỉnh tăng dần để phản ánh đầy đủ các yếu tố cấu thành chi phí, và cùng với đó nhà nước sẽ chuyển dần sang cơ chế đấu thầu, đặt hàng giao nhiệm vụ cho các trường đại học để đào tạo những ngành nghề mà xã hội có nhu cầu, nhưng ít có khả năng thu hút người học. Nói cách khác, các trường đại học sẽ phải cạnh tranh để có thể có được “hợp đồng đặt hàng, giao nhiệm vụ” từ các cơ quan nhà nước.
Cùng với đó, gắn cấp ngân sách chi thường xuyên với kết quả hoạt động, đồng thời đảm bảo tính ổn định về tài chính cho các cơ sở GDĐH. 
 

Còn theo PGS.TS Nguyễn Trường Giang, nếu như chúng ta vẫn giữ tư duy là tài trợ cho GDĐH chủ yếu từ NSNN thì với khả năng hạn hẹp của NSNN hiện nay, thì GDĐH sẽ không phát triển, nhu cầu đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước và học tập của người dân không được đáp ứng, nhà nước vẫn tiếp tục duy trì sự mất công bằng trong xã hội thông qua việc NSNN trợ cấp bình quân thông qua duy trì mức học phí thấp đối với tất cả các đối tượng theo học đại học, không phân biệt điều kiện thu nhập và khả năng đóng góp của từng đối tượng. Vì vậy, cần học tập kinh nghiệm quốc tế để đổi mới mô hình cân đối tài chính GDĐH ở Việt Nam. 
Trong đó, học phí cần được nâng lên đáng kể, với mục tiêu là học phí tiến tới bù đắp được chi phí đào tạo cần thiết để đạt chất lượng đáp ứng yêu cầu đặt ra. Quan điểm thực hiện tính đủ học phí và có lộ trình xóa bỏ bao cấp qua giá, phí dịch vụ đã được nêu rõ trong Kết luận số 37- TB/TW ngày 26/5/2011 của Bộ Chính trị và vừa qua đã được Quốc hội Luật hóa dưới hình thức chuyển học phí từ danh mục tính phí sang tính giá dịch vụ (tính đủ các yếu tố chi phí cấu thành giá).
Ngoài ra, việc điều chỉnh học phí phải cần gắn với việc đảm bảo khả năng tiếp cận giáo dục đại học đối với các đối tượng học sinh thuộc đối tượng chính sách, học sinh tài năng, học sinh thuộc các hộ gia đình có thu nhập thấp, gia đình nghèo.
Bên cạnh đó, cần thiết nghiên cứu thay đổi từ phương thức phân bổ NSNN để vận hành các cơ sở giáo dục đại học công lập hiện nay theo dự toán mang tính chất bình quân hàng năm, (trong đó các cơ sở đào tạo được nhận NSNN không có ràng buộc chặt chẽ với cơ quan nhà nước cấp ngân sách về số lượng, cơ cấu ngành ghề, chất lượng sinh viên được đào tạo), việc phân bổ ngân sách không gắn với tiêu chí chất lượng, thiếu tính cạnh tranh, còn nặng về cơ chế xin, cho. Vì vậy, cần chuyển sang phương thức nhà nước đặt hàng đào tạo theo nhu cầu đào tạo và sử dụng.
Cuối cùng, theo PGS.TS Nguyễn Trường Giang, đảm bảo chất lượng là yêu cầu cần thiết đối với tất cả các cơ sở GDĐH, việc đổi mới mô hình tài chính GDĐH sẽ không thành công nếu không đáp ứng nâng cao được yêu cầu chất lượng đào tạo. Thực hiện yêu cầu này đòi hỏi các cơ quan nhà nước cần ban hành những chuẩn mực về tiêu chuẩn chất lượng quốc gia, tiếp cận với chuẩn chất lượng khu vực và quốc tế theo tinh thần hội nhập, các cơ sở đại học cần cam kết và thực hiện theo chuẩn chất lượng đã được quy định. Bên cạnh tổ chức kiểm định của nhà nước, cần có những tổ chức kiểm định độc lập để có những đánh giá khách quan, minh bạch về chất lượng đào tạo./.
 

Đức Việt

Theo Nhịp sống kinh tế
2.089 

Phan Quang Vinh vanmy nguyen Nguyễn Hữu Duy Nguyễn Ngọc Nguyên Nguyễn Sơn Trịnh Đình Hổ Nguyễn Hoàng Tùng Quách Đại Vũ Huỳnh Nguyễn Duy Khôi Hà Văn Quý Trần Quang Diệu Trần Minh Tú Chu Văn Xuân Lê Cảnh Đăng Khoa Nguyễn Nguyễn Thiên Phú Nguyễn Việt Dũng Lý Tiến Dũng Nguyễn Anh Tuấn Nguyễn Duy Thái Phạm Hữu Nghị Nguyễn Trường Lâm Đồng Gia Khánh Đặng Triệu Vĩ Nguyễn Văn Đức Phạm Bá Thịnh Võ Thanh Nguyên Phạm Đỗ Hải Long Phan Minh Phúc Nguyễn Trung Hoàng Hồ Chí Trung Cao Viết Thương Nguyễn Lê Hoàn Võ Chí Khang Đặng Chí Nghĩa Trần Văn Sỹ Nguyễn Bùi Minh Hoài Thư Phạm Thanh Y Vân Phạm Thị Liên Nguyễn Thị Minh Ngọc Y Sa Faty Lê Thị Vân Nguyễn Thị Bích Ngọc Nguyễn Thu Thủy Lương Thị Phương Hồ Lệ Thanh Đỗ Thị Hân Đỗ Chi Trần Thị Thanh Hòa Trần Thị Thùy Trang Vũ Thị Linh Chi Mai Nữ Hạnh Nhân Mai Anh Vũ Phan Vũ Hoài Thư Tô Thị Kim Trinh Danh Thi Thom Trần Thị Vân Oanh Phạm Thị Thúy Tiên Văn Thụy Tuyền An Nhật Linh Nguyễn Nguyễn Thụy Vũ Đặng Thuỳ Cúc Lê Thiên Ánh Ngọc Nguyễn Thị Sương Nguyễn Oanh Dương Nguyễn Huyền Trang Vũ Diễm Ly Phạm Thị Hạnh Dương Thị Kim Ngân Trần Thị Lễ Dương Hồng Nhung Đỗ Thị Ngọc Ánh Nguyễn Lê Tú Uyên Vi Bích Phương Sầm Thị Thu Cẩm Nguyễn Thị Thanh Nam Nguyễn Thị Quỳnh Như Nguyễn Thị Mỹ Hoa Nguyễn Thị Thuỳ Linh Võ Huỳnh Trinh Trương Vũ Lệ Quyên Nguyễn Thị Thuý Nhi Nguyễn Lý Xuân Thy Nguyễn Thị Khánh Huyền Trần Nguyệt Hà Nguyễn Minh Tuyền Tô Nguyễn Bích Ngọc Phạm Thị Hồng Nguyệt Trần Linh Chi Nguyễn Trần Thị Thanh Thiên Dương Thị Phượng Thấm Tạ Thị Mỹ Anh Nguyễn Thị Lành Lê Vũ Như Bảo Nguyễn Thị Quỳnh Như Nguyễn Thị Vân Vũ Minh Phương Cao Thị Lành Đoàn Thị Như Quỳnh Nguyễn Thị Hương NGUYỄN VŨ LĂM Vi Tiểu Phương Lê Thanh Ngân Nguyễn Thị Sơn Trúc Hầu Tuyết Ngân Phạm Thị Ngọc Hồng Nguyễn Thị Thúy Giảng Thị Thu Hồng Nguyễn Thị Mỹ Linh Trịnh Khánh Linh Nguyễn Thị Trinh Nguyễn Linh Đoàn Thị Mỹ Xuân Bùi Thị Huỳnh Như Phạm Mai Kỳ Duyên Hằng Vũ Vũ Thị Phương Anh Trần Hiền Phương Lục Thị Trang Nguyễn Thị Lan Thanh Hoàng Tuệ San Đinh Thị Hương Thảo Nguyễn Kim Anh Phạm Thị Ngọc Nữ Trần Thanh Uyên Hồ Thị Cẩm Nhung Đoàn Thị Như Quỳnh Trần Thị Phượng Linh Chi Võ Thị Phi Yến Hoàng Ngọc Lưu Ly Trịnh Ngọc Anh