Khắc phục bất cập pháp luật về thu thuế tài nguyên

Thuế tài nguyên là công cụ để quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác tài nguyên nhằm quản lý, giám sát góp phần thúc đẩy sử dụng tài nguyên tiết kiệm.

Giai đoạn 2010 - 2017, số thu bình quân năm từ thuế tài nguyên của Việt Nam đạt 33.756,61 tỷ đồng, tương đương 0,92% GDP. Ảnh: Đỗ Phương

Giai đoạn 2010 - 2017, số thu bình quân năm từ thuế tài nguyên của Việt Nam đạt 33.756,61 tỷ đồng, tương đương 0,92% GDP. Ảnh: Đỗ Phương

Việt Nam đang sử dụng phương pháp thu thuế dựa trên giá trị tài nguyên. Tuy nhiên, các quy định pháp luật thực hiện việc thu thuế vẫn còn tồn tại nhiều bất cập dẫn đến thất thu, chưa khuyến khích doanh nghiệp tinh chế hoặc chế biến sâu khoáng sản.

Nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước

Theo thống kê của Bộ Tài chính, giai đoạn 2010 - 2017, số thu bình quân/năm từ thuế tài nguyên của Việt Nam đạt 33.756,61 tỷ đồng, chiếm 3,8% tổng thu ngân sách nhà nước và tương đương 0,92% GDP. Trong đó, thu từ dầu thô có xu hướng giảm trong những năm gần đây.

PGS. TS. Lê Xuân Trường thuộc Học viện Tài chính, Bộ Tài chính cho biết, hiện có 3 luật, 2 nghị định và 4 thông tư có liên quan đến thuế tài nguyên. Tuy nhiên, các quy định pháp luật về thuế tài nguyên vẫn còn nhiều bất cập liên quan đến người nộp thuế, sản lượng tính thuế, giá tính thuế, thuế suất và quản lý thuế tài nguyên.

Cụ thể, về đối tượng nộp thuế, Điểm c Khoản 2 Điều 3 Luật Thuế tài nguyên quy định, một trong những trường hợp cụ thể về người nộp thuế: Tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nhỏ, lẻ bán cho tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua. Ông Lê Xuân Trường cho rằng, nếu thực hiện theo Luật Thuế tài nguyên thì mâu thuẫn với Luật Khoáng sản, Luật Tài nguyên nước và Luật Bảo vệ và phát triển rừng.

Nếu thực hiện theo Thông tư 152/2015/TT-BTC thì không mâu thuẫn với các luật trên nhưng lại khó quản lý, dẫn đến thất thu thuế khi hộ gia đình, cá nhân khai thác đất làm vật liệu xây dựng trong khuôn viên đất được giao sử dụng ổn định lâu dài bán cho các đơn vị sản xuất vật liệu xây dựng; hộ gia đình được giao đất, giao rừng được phép khai thác sản phẩm rừng tự nhiên trong phạm vi đất được giao bán ra.

Mặt khác, sản lượng tính thuế, thu thuế tài nguyên được tính trên sản lượng thực tế do người khai thác khai báo nên chưa khuyến khích tận dụng hết tài nguyên trong khai thác chế biến. Giá tính thuế cũng còn thiếu thống nhất trong quy định pháp luật, dẫn đến thất thu; các thông tư hướng dẫn chặt chẽ nhưng không thống nhất với luật.

Ngoài ra, quy định về giá tính thuế tài nguyên hiện hành chưa phản ánh rõ việc đánh thuế tài nguyên là đánh thuế vào tài nguyên nguyên khai; chưa khuyến khích tinh chế hoặc chế biến sâu tài nguyên trước khi tiêu thụ hoặc xuất khẩu tài nguyên; chưa quy định cho trừ chi phí tinh chế tài nguyên. Quy định về giá tính thuế tài nguyên cũng không trừ chi phí vận chuyển tài nguyên từ nơi khai thác đến cửa khẩu xuất. 

Sửa đổi quy định pháp luật

PGS.TS. Lê Xuân Trường khuyến nghị cấp có thẩm quyền cần phải sửa đổi Điểm c Khoản 2 Điều 3 Luật Thuế tài nguyên theo hướng, tổ chức, cá nhân được phép khai thác tài nguyên nhưng sản lượng tài nguyên khai thác nhỏ, lẻ bán cho tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua và tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua cam kết chấp thuận bằng văn bản về việc triển khai, nộp thuế thay cho tổ chức, cá nhân khai thác thì tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua là người nộp thuế.

Nguyên tắc chung nhất xác định sản lượng tài nguyên tính thuế phải dựa trên số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng tài nguyên nguyên khai thực tế khai thác. Theo đó, phải quy định cam kết sản lượng tối thiểu khai thác làm căn cứ tính thuế tài nguyên khi cấp phép khai thác để tránh lãng phí tài nguyên.

Giá tính thuế tài nguyên cần được sửa đổi theo hướng giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên nguyên khai của tổ chức, cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng nhưng không được thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định.

Theo một chuyên gia khác, trước mắt, cần sửa đổi Thông tư 152/2015/TT-BTC để xử lý những trường hợp cụ thể bất hợp lý về xác định sản lượng, giá tính thuế tài nguyên.

Để quản lý thuế tài nguyên, chuyên gia này cho rằng, cần bổ sung rõ quy định về cơ chế phối hợp giữa cơ quan thuế và cơ quan tài nguyên môi trường trong xác định sản lượng tài nguyên tính thuế. Cách thức phối hợp sẽ là kiểm tra thực địa tại khai trường giữa cơ quan thuế với cơ quan tài nguyên môi trường.

Cùng với đó, cần tăng cường vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý thu đối với khai thác tài nguyên; nâng cao vai trò của người đứng đầu địa phương trong quản lý tài nguyên; nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế các cấp.

Trần Kiên

Theo Báo Đấu Thầu
2.103 

Nguyễn Nam Bình Phạm Quốc Thái Nguyễn Lê Hoàng Trần Huy Tấn Y Đen Hmõk Chu Văn Hiệp Ngô Gia Phát Nguyễn Thành Chiểu Nguyễn Thành Chiểu Đặng Thanh Quân Ngô Văn Nam Lê Hải Bắc Phạm Công Điền Lê Anh Duy Trịnh Đình Thịnh Hoàng Tuấn Vũ Lương Trường Viên Nguyễn Tấn Lân NGUYỄN ANH TUẤN Huỳnh Công Khanh Nguyễn Ngọc Anh Nguyễn Tuấn Anh Phùng Ngọc Thương Nguyễn Chí Nguyện Vũ Văn Việt Trần Lê Quỳnh Trâm Lê Văn Ánh Tuyết Ngọc Thị Mến Nguyễn Phương Dung Cao Linh Lê Thị Mộng Tuyền Trịnh Thị Thúy Niên Phạm Lê Bảo Ngân Nguyễn Thị Minh Trang Nguyễn Thị Phương Dung Lê Thị Ngọc Trâm Ngô Thị Đăng Thương Huỳnh Thị Hồng Quyên Trần Thị Kim Thoa Trần Ngọc Minh Loan Phạm Thanh Ngân Anh Đài Trần Thị Huệ Quỳnh Nông Thị Thùy Trang Nguyễn Thị Hương Trà Tống Ngọc Trinh Tạ Xuân Trần Thị Bích Ngọc Tăng Ngọc Kiều Oanh Đỗ Hồng Ngọc Nguyễn Thị Thu Trang Nguyễn Thanh Thảo Lê Thu Thuỷ Trần Thị Xuân Thi Thụy Ngân BÙI THỊ TRÚC LINH Trần Thị Ngân Trần Thị Anh Thư Nguyễn Thị Kim Ngọc Nguyễn Thị Nhật Ly Nguyễn Thị Băng Tâm Nguyễn Trần Quỳnh Linh Nguyễn Thị Thanh Nhàn Đặng Thùy Trinh Hoàng Thị Hợi Ngô Thị Liệu ĐOÀN THỊ THU TRÂM Huỳnh Thu Hương Nguyễn Thị Thùy Bùi Thị Ngọc Hồng Vũ Kiều Linh Đào Huyền Trang Nguyễn Thị Huyền Trang Đỗ Thị Hồng Loan Nguyễn Thị Mỹ Diệu Nguyễn Thu Thủy HUỲNH THỊ THẢO TRÂM Đào Thị Thanh Nga Nguyễn Thùy Đoan Trinh Quyết Nguyễn Ngọc Giang Nguyễn Thị Cẩm Thu Trần Thị Minh Thoa Trần Thị Ninh Trang Nguyễn Thị Thanh Loan Trần Thị Mỹ Liên Dương Thị Thoa Ngô Đan Thanh Trần Lan Phương Nghê Tuyết Linh Nguyễn Mộng Thùy Dung Phan Mỹ Linh Vũ Quỳnh Trang Yến Nguyen Trần Thị Mai Hoa Phạm Thị Vân Anh Phạm Thị Minh Thơ Lý Thanh Thanh Lê Ngọc Anh Nguyễn Thị Cẩm Thương Trịnh Thị Hiền Nguyễn Phương Dung Trần Minh Trang Nại Năng Ka Won Khúc Thị Huyền Chang Nguyễn Thị Ngọc Lan Đoàn Kim Ngân Trương Thị Diệu Ly Phan Thị Phương Thảo Hằng Phạm Nguyễn Hoàng Anh Nguyễn Thị Cẩm Thúy Kiều Thu Hằng Nguyễn Nhung Phạm Thị Thêu Mai Diệu Linh