Khi nào tạm đình chỉ tư cách thành viên Đoàn luật sư?

(có 2 đánh giá)

Tôi đọc báo thấy Bà Đặng Thị Hàn Ni thuộc Đoàn Luật sư TPHCM vừa bị đình chỉ tư cách thành viên Đoàn luật sư. Vậy cho tôi hỏi khi nào luật sư bị tạm đình chỉ tư cách thành viên Đoàn luật sư? - Kim Thảo (An Giang)

1. Khi nào tạm đình chỉ tư cách thành viên Đoàn luật sư?

Để biết khi nào luật sư bị tạm đình chỉ tư cách thành viên Đoàn luật sư, chúng ta có thể xem tại Điều 85 Luật Luật sư 2006 (được hướng dẫn bởi Quyết định 856/QĐ-TTg 2022) như sau:

(1) Luật sư vi phạm quy định của Luật Luật sư, Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam và quy định khác của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong các hình thức kỷ luật sau đây:

- Khiển trách;

- Cảnh cáo;

- Tạm đình chỉ tư cách thành viên Đoàn luật sư từ sáu tháng đến hai mươi bốn tháng;

- Xóa tên khỏi danh sách luật sư của Đoàn luật sư.

(2) Việc xem xét quyết định kỷ luật luật sư thuộc thẩm quyền của Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư theo đề nghị của Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của Đoàn luật sư.

(3) Trong trường hợp luật sư bị xử lý kỷ luật bằng hình thức xoá tên khỏi danh sách luật sư của Đoàn luật sư thì Đoàn luật sư phải thông báo bằng văn bản với Sở Tư pháp và đề nghị Bộ Tư pháp thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư, đề nghị Liên đoàn luật sư Việt Nam thu hồi Thẻ luật sư.

Như vậy luật sư bị tạm đình chỉ tư cách thành viên Đoàn luật sư từ sáu tháng đến hai mươi bốn tháng khi vi phạm quy định của Luật Luật sư, Điều lệ, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam và quy định khác của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.

Khi nào tạm đình chỉ tư cách thành viên Đoàn luật sư?

Khi nào tạm đình chỉ tư cách thành viên Đoàn luật sư? (Hình từ Internet)

2. Khiếu nại quyết định tạm đình chỉ tư cách thành viên Đoàn luật sư

Tại Điều 87 Luật Luật sư 2006 (được hướng dẫn bởi Điều 43 Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định 856/QĐ-TTg) quy định việc khiếu nại quyết định kỷ luật của luật sư như sau:

(1) Luật sư, người tập sự hành nghề luật sư bị xử lý kỷ luật, cá nhân có đơn khiếu nại, tố cáo hoặc tổ chức có đơn khiếu nại đối với luật sư trong vụ việc kỷ luật có quyền khiếu nại đối với quyết định kỷ luật của Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư.

(2) Ban Thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật của Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư.

(3) Khi giải quyết khiếu nại, Ban Thường vụ Liên đoàn có quyền quyết định:

- Giữ nguyên quyết định kỷ luật của Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư nếu xét thấy việc xử lý kỷ luật tuân thủ đúng trình tự, thủ tục; nội dung xử lý tương xứng tính chất, mức độ vi phạm;

- Sửa quyết định kỷ luật của Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư, quyết định áp dụng hình thức kỷ luật nhẹ hơn nếu xét thấy việc áp dụng hình thức kỷ luật của Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư là nặng hơn so với tính chất, mức độ vi phạm;

- Sửa quyết định kỷ luật của Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư, quyết định áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn trong trường hợp có khiếu nại yêu cầu tăng nặng, đồng thời xét thấy việc áp dụng hình thức kỷ luật của Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư là nhẹ hơn so với tính chất, mức độ vi phạm;

- Hủy quyết định kỷ luật của Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư và yêu cầu Đoàn Luật sư xem xét, giải quyết lại trong trường hợp Ban Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của Đoàn Luật sư xác minh, thu thập chứng cứ vi phạm không đầy đủ hoặc có vi phạm nghiêm trọng về trình tự, thủ tục xem xét, xử lý kỷ luật;

- Hủy quyết định kỷ luật của Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư và đình chỉ việc xử lý kỷ luật đối với luật sư trong trường hợp xét thấy luật sư không có hành vi vi phạm hoặc hành vi vi phạm chưa đến mức phải xử lý kỷ luật theo quy định Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam;

- Hủy quyết định kỷ luật của Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư và chuyển vụ việc cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong trường hợp xét thấy vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Đoàn Luật sư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam.

(4) Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Ban Thường vụ Liên đoàn đối với hình thức xử lý kỷ luật quy định tại điểm c và d khoản 1 Điều 42 Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam, người bị xử lý kỷ luật có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tư pháp theo quy định của Luật Luật sư, trừ trường hợp người khiếu nại là người tập sự hành nghề luật sư.

(5) Căn cứ quy định của pháp luật và Điều lệ Liên đoàn, Hội đồng Luật sư toàn quốc quy định nội dung, thẩm quyền và thủ tục giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật của Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư.

(có 2 đánh giá)
Đỗ Thành Long
Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của NHÂN LỰC NGÀNH LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email info@nhanlucnganhluat.vn.
2.130