Nghiên cứu pháp luật - Nhìn từ góc độ các hình thức nghề nghiệp trong lĩnh vực pháp luật

29 lượt xem 
Nghiên cứu pháp luật liệu có phải chỉ là công việc của chỉ riêng những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp? Những ai cần nghiên cứu pháp luật và nghiên cứu pháp luật để làm gì? Từ góc độ nghề nghiệp, bài viết sau đây mong muốn đưa ra một cách nhìn toàn diện về vai trò của nghiên cứu pháp luật trong cuộc sống, đồng thời đưa ra những gợi ý về mặt nghề nghiệ

Các nghề nghiệp trong lĩnh vực luật được chia thành bốn nhóm cơ bản là (i) sinh viên luật; (ii) người hành nghề luật; (iii) người tư vấn chính sách và (iv) người nghiên cứu chuyên nghiệp.


1. Nghiên cứu pháp luật từ góc độ sinh viên luật

Ảnh minh họa - Nguồn: INTERNET


Nghiên cứu đối với sinh viên luật có lẽ là rộng hơn cả, đơn giản vì người ta muốn giới thiệu với các bạn mọi thứ về luật. Ở một góc độ khác, điều này có nghĩa là cái gì về luật bạn cũng phải biết: lý luận về pháp luật, lịch sử pháp luật, các hệ thống pháp luật, các ngành luật v.v. và v.v. Đừng lo lắng quá, thực ra bạn không cần phải biết hết đâu, vì chẳng có ai biết hết cả. Cũng không cần phải biết sâu quá đâu, vì đây chính là giai đoạn bạn phải biết rộng mà chưa biết sâu. Hãy cố gắng hình dung pháp luật đã vận động trong lịch sử như thế nào; bản đồ pháp luật thế giới được định hình như thế nào; pháp luật vận hành như thế nào trên thực tế và đặc biệt, bạn cần nhận biết sự khác biệt giữa các ngành luật. Chẳng hạn như luật dân sự có nguyên tắc quan trọng nhất là tự định đoạt, khác với luật hành chính có nguyên tắc quan trọng nhất là mệnh lệnh, áp đặt. Sự khác nhau này giống như việc bạn có thể thoả thuận gặp nhau ký hợp đồng lúc 21 giờ, nhưng không thể thoả thuận đến cơ quan nhà nước làm việc lúc 21 giờ được. Nhận biết được sự khác biệt về bản chất giữa các ngành luật tạo ra nền tảng rất tốt cho bất kỳ công việc nào về luật của bạn sau này. Bạn không phải lo lắng quá về các quy định pháp luật cụ thể. Không thuộc chúng cũng chẳng sao. Các quy định rất nhiều và còn thay đổi. Bạn chỉ cần biết chúng ở đâu là được. Trong giai đoạn này, các quy định cụ thể chỉ được dùng để phân tích các tình huống thực tế, hay để minh hoạ cho các vấn đề lý thuyết như cách thức điều chỉnh của các ngành luật mà thôi.

2. Nghiên cứu pháp luật từ góc độ người hành nghề pháp luật thực hành

Ảnh minh họa - Nguồn : INTERNET


Bạn là người hành nghề pháp luật thực hành khi bạn là luật sư trong hãng luật, luật sư nội bộ hay chuyên viên pháp chế trong doanh nghiệp, nhà tư vấn độc lập hay làm bất kỳ công việc nào mà trong đó bạn thực hành luật.

Không giống như sinh viên luật, người hành nghề luật phải biết được các quy định pháp luật cụ thể liên quan đến vấn đề mình đang làm. Lý do là bạn phải chỉ ra được hệ quả pháp lý của một quyết định chuẩn bị đưa ra, một công việc chuẩn bị làm, một hợp đồng chuẩn bị ký, một giấy phép chuẩn bị xin cấp... Có vô vàn các vấn đề về mặt pháp lý của các hành động này mà bạn cần phải quan tâm. Tính hợp pháp là yếu tố được quan tâm đầu tiên, nhưng các vấn đề khác cũng không kém phần quan trọng. Người ta có thể hỏi bạn về một quyết định chưa đưa ra và bạn phải cho họ biết hậu quả pháp lý nếu quyết định đó được đưa ra. Có người gặp rắc rối về mặt pháp lý và bạn phải gỡ rối cho họ hay ít nhất là giảm thiểu thiệt hại. Nếu bạn làm về hợp đồng (soạn thảo hoặc rà soát hợp đồng), bạn phải hình dung ra được theo pháp luật thì quyền và nghĩa vụ các bên sẽ được xác định thế nào nếu tranh chấp phát sinh; cái gì nên đưa vào hợp đồng và cái gì nên bỏ ra để đảm bảo lợi ích tốt nhất cho phía của bạn. Nếu bạn xin cấp phép, bạn phải xác định được các bước cần được tiến hành, các tài liệu nào cần đưa vào hồ sơ và các yêu cầu các cần được hoàn thành để hồ sơ của bạn được chấp thuận. Và đó chỉ là một số ví dụ về các công việc mà người thực hành luật phải làm.

Như vậy, khi làm nghiên cứu về luật, người thực hành luật trước hết phải tìm kiếm các quy định liên quan đến công việc của mình. Đây mới chỉ là tìm kiếm, chưa phải nghiên cứu. Nhưng công việc nghiên cứu sẽ đi liền sau đó. Người thực hành luật phải xác định các quy định pháp luật sẽ như thế nào khi đặt vào tình huống đang xem xét. Kiến thức về đặc thù của mỗi ngành luật cũng như kỹ năng phân tích các vụ việc thu nhận được từ thời sinh viên sẽ giúp bạn làm việc này. Nhưng bạn cũng cần bổ sung các kiến thức chuyên ngành về lĩnh vực mình đang làm (như chứng khoán, ngân hàng, sở hữu trí tuệ, bất động sản, giao thông...)

Công việc nghiên cứu của người thực hành luật đòi hỏi bạn phải dự liệu tất cả các tình huống có thể phát sinh để chủ động có những giải pháp cho các tình huống này. Và nhớ rằng chỉ các quy định pháp luật thôi thì chưa đủ. Bạn cần tìm hiểu chính sách đang được thực thi đối với vấn đề mà bạn đang làm. Luật và chính sách không phải lúc nào cũng đồng nhất hoàn toàn. Chính sách có thể là thông điệp nằm trong các quy định pháp luật, nhưng cũng có thể là thông điệp mà qua thực tiễn bạn mới nhận thấy. Ví dụ như khi một quy định đã có hiệu lực và có chế tài đối với hành vi vi phạm, nhưng cơ quan nhà nước có thể vẫn đang thi hành chính sách nhắc nhở, giáo dục mà chưa phạt. Đây là những chính sách ngầm định. Nếu là người đưa ra ý kiến pháp lý trong tình huống tương ứng, bạn phải biết được điều này. Bạn có thể nhìn vào những vụ việc trước để xem xét, nhưng cũng cần hết sức cẩn trọng bởi nó có thể thay đổi.

Bạn không thể giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề pháp lý khi thực hành nghề luật nếu không làm nghiên cứu. Khi bắt đầu nghề nghiệp của mình với tư cách là một người thực hành nghề, thực ra là bạn đang tiếp tục công việc nghiên cứu. Vào thời điểm đó, bạn đã được trang bị các kiến thức về lý luận pháp luật, về các ngành luật, về cách thức luật vận hành trong đời sống thông qua phân tích các tình huống cụ thể từ thời sinh viên. Với nền tảng này, giờ đây bạn có thể tập trung vào các quy tắc pháp luật, các vụ việc, các tình huống thực tế. Và khả năng phỏng đoán cũng sẽ rất có ích cho quá trình này.

3. Nghiên cứu pháp luật từ góc độ nhà tư vấn chính sách

Ảnh minh họa - Nguồn : INTERNET


Các chính trị gia làm luật, nhưng họ thường không đủ thời gian để tự mình làm nghiên cứu. Do vậy, cần có các nhà tư vấn, các trợ lý, chuyên gia làm nghiên cứu giúp cho họ. Những người làm công việc này có thể gọi chung là nhà tư vấn chính sách.

Nhà tư vấn chính sách làm nghiên cứu pháp luật phục vụ cho các đề xuất giữ nguyên, bãi bỏ hay sửa đổi quy định pháp luật đang có, hoặc ban hành quy định mới và các chính sách được lựa chọn khi ban hành quy định mới.

Giống như người thực hành luật, nhà tư vấn chính sách cần dự báo được các tình huống có thể phát sinh để hình thành sẵn những giải pháp điều chỉnh pháp lý trong các tình huống này. Tuy nhiên, không giống như người thực hành luật, nhà tư vấn chính sách cần phải nhìn vấn đề nghiên cứu trên một phạm vi không gian rộng hơn và thời gian lâu hơn để có thể bao quát được tất cả các đối tượng liên quan đến vấn đê cần được điều chỉnh, tránh ở mức tối đa các lỗ hổng pháp lý. Và cũng không giống như người thực hành luật, nhà tư vẫn chính sách cần phải đưa ra các giải pháp trên cơ sở khách quan, trung lập, cân bằng lợi ích của các bên.

Điều quan trọng nhất đối với một nhà tư vấn chính sách là luôn bám sát mục tiêu điều chỉnh của những quy định mình đang nghiên cứu để đề xuất giải pháp. Nhà tư vấn chính sách phải tham khảo các quy tắc pháp lý trong các lĩnh vực khác, các quy tắc tương tự của pháp luật nước ngoài để có thể rút ra bài học, lấy ý kiến các chuyên gia nước ngoài và các đối tượng liên quan, nhưng phải luôn xuất phát từ mục tiêu điều chỉnh của quy tắc mà mình đang nghiên cứu.


Hãy xem xét ví dụ về việc quản lý nơi cư trú của công dân. Kêu gọi bỏ sổ hộ khẩu là trong quy chế quản lý cư trú đang thu hút được sự quan tâm của xã hội và được hoan nghênh. Tuy nhiên, để có thể có những lập luận đầy đủ cho việc loại bỏ này, nhà tư vấn chính sách cần trả lời rất nhiều câu hỏi, chẳng hạn như: mục tiêu quản lý nơi cư trú của công dân là gì? Hệ thống quản lý bằng sổ hộ khẩu đã đáp ứng mục tiêu này như thế nào? Có thay đổi gì trong mục tiêu quản lý hay không? Các vấn đề thực sự phát sinh từ việc quản lý bằng sổ hộ khẩu là gì và cần bãi bỏ sổ hộ khẩu mới giải quyết được các vấn đề này? Các biện pháp quản lý thay thế sẽ đáp ứng mục tiêu quản lý như thế nào? Các nước khác quản lý cư trú đối với công dân như thế nào?... Các vấn đề liên quan khác cũng cần được nghiên cứu. Chẳng hạn khi có sổ hộ khẩu, người dân có thể dễ dàng trình sổ hộ khẩu để chứng minh nơi cư trú khi đi làm một số thủ tục. Khi không có sổ hộ khẩu, liệu người dân khi cần khai nơi cư trú có cần phải đi ra uỷ ban nhân dân phường hay cơ quan công an để xin xác nhận không? Tất cả những câu hỏi như vậy cần được trả lời thoả đáng để có thể đề xuất được những quy định tốt.

4. Nghiên cứu pháp luật từ góc độ nhà nghiên cứu chuyên nghiệp

Ảnh minh họa - Nguồn: INTERNET


Giờ thì bạn đã thấy là tất cả các nhóm ngành trong lĩnh vực luật đều có liên quan đến làm nghiên cứu. Nhưng trong lĩnh vực này vẫn có những người được gọi là nhà nghiên cứu pháp luật. Vậy công việc nghiên cứu của họ khác như thế nào?


Nhà nghiên cứu luật chuyên nghiệp phải quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề chung, có tính khái quát cao của các quy tắc pháp luật và thực tiễn pháp luật. Họ cần phải tìm ra những mô hình, dạng thức, hình mẫu, mô thức, quy luật phát triển, các triết lý bên trong và những yếu tố chi phối... của các quy tắc pháp luật, chế định pháp luật, hệ thống pháp luật, sự phát triển của pháp luật và của các tư tưởng pháp luật... Điều này có nghĩa là nhà nghiên cứu chuyên nghiệp phải đi vào chiều sâu kiến thức trong lĩnh vực pháp luật, chỉ ra những điều mà người khác chưa tìm ra, từ đó có những đóng góp cho kiến thức chung.

Vậy nghiên cứu pháp lý có tính chuyên nghiệp mang lại điều gì cho xã hội. Nhờ việc mang lại những kiến thức khái quát và cung cấp những luận giải có tính chiều sâu về các vấn đề pháp luật, các lý thuyết được phát triển từ hoạt động nghiên cứu pháp luật có thể có tầm ảnh hưởng rộng khắp đến hệ thống pháp luật của cả một quốc gia hoặc nhóm quốc gia thuộc một hệ thuộc pháp luật và trong một giai đoạn nhất định. Ở một mức độ khiêm tốn hơn, kết quả nghiên cứu pháp luật có thể có ảnh hưởng đến sự phát triển của một ngành luật, chế định luật, một quy tắc pháp luật hoặc việc áp dụng quy tắc pháp luật trên thực tế.


Nhiều nhà nghiên cứu có thể tham gia các hoạt động tư vấn chính sách. Họ quan tâm nhiều đến tính ứng dụng của nghiên cứu luật. Một số có xu hướng "tháp ngà". Họ làm nghiên cứu để phát triển lý thuyết về pháp luật và để truyền đạt lại cho các sinh viên của mình. Ngày nay, chúng ta cũng có thể gặp các nhà nghiên cứu thực hiện nhiều chức năng khác nhau trong lĩnh vực pháp luật: làm nghiên cứu, giảng bài, tư vấn chính sách và thực hành luật. Đây là vấn đề của sự lựa chọn, cơ hội, thời gian và năng lực. Các hoạt động này, về mặt kỹ năng, có thể hỗ trợ cho nhau.

5. Vĩ thanh

Như vậy, nghiên cứu luật không phải là đặc quyền của các nhà nghiên cứu. Hành nghề luật, ở các góc độ khác nhau, đều cần nghiên cứu pháp luật. Làm nghiên cứu pháp luật tốt đúng như lĩnh vực nghề nghiệp của mình yêu cầu là điều kiện cần thiết để bạn có thể nhìn thấy giá trị xã hội từ công việc của mình.
Phân tích về công việc nghiên cứu luật ở góc độ nghề nghiệp trong lĩnh vực cũng cho thấy mức độ tương thích giữa các nghề trong lĩnh vực luật là tương đối cao. Kiến thức và kỹ năng trong trong một hoạt động nghề nghiệp có thể hỗ trợ cho việc hoạt động trong một lĩnh vực nghề nghiệp khác. Điều này có nghĩa là việc di chuyển giữa các nghề khác nhau trong lĩnh vực pháp luật không thực sự khó như chúng ta vẫn hình dung.

                                                                                                          TS. Trần Thị Quang Hồng

Nguồn Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

Bình luận:


Hình mã xác nhận