Thừa phát lại – “Cái tên” vẫn còn khá xa lạ

Thoạt đầu khi mới nghe sơ qua, khá nhiều người sẽ nghĩ cụm từ thừa phát lại là một thuật ngữ mới vì tính trừu tượng và sự khó hiểu về từ ngữ của nó.

Vậy nên bài viết này mình sẽ đề cập đến một số vấn đề cơ bản nhất về thuật ngữ này, gồm các câu hỏi thường gặp như: Thừa phát lại sẽ làm những công việc gì? Do ai bổ nhiệm?,...

Trước tiên, ngược về quá khứ thì tên gọi "thừa phát lại" là một thuật ngữ có gốc Hán - Việt (thừa có nghĩa là thừa ủy quyền, thừa quyền; phát là phát ra, đưa đến tức là công việc của một người thực hiện theo lệnh của quan) và mang tính lịch sử.

 

Nó đã tồn tại ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ trước năm 1975. Nghĩa của nó chỉ một người công lại (một người không phải nhân viên nhà nước nhưng lại mang trong mình quyền lực nhà nước vì người đó được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm) và cũng kể từ thời Pháp thuộc đã tồn tại chức này. Và đối chiếu với pháp luật hiện hành thì theo quy định tại Nghị định 61/2009/NĐ-CP Thừa phát lại được hiểu là người được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc về thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theo quy định của Nghị định và pháp luật có liên quan.

 

Tạm dừng lại ở hoạt động của thừa phát lại ta sẽ thấy một giá trị khá lớn, đó là việc lập vi bằng (Theo Khoản 1 Điều 2 Nghị định 61/2009/NĐ-CP  của Chính phủ thì vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác). Đây có thể xem là một điểm sáng vì người dân có thể chủ động bảo vệ quyền lợi của mình bằng việc xác lập các chứng cứ nếu họ gặp phải một tranh chấp pháp lý bất kỳ.

 

Thừa phát lại có thể xem như một nghề luật tương tự Luật sư, Kiểm sát viên, Công chứng viên,…Việc tiêu chuẩn để bổ nhiệm thừa phát lại cũng có những quy định khắt khe và được căn cứ theo Điều 10, 15, 17, 18 Nghị định 61/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại và được sửa đổi, bổ sung tại Nghị Định 135/2013/NĐ-CP.

 

Các văn phòng Thừa phát lại hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính và cung cấp các dịch vụ pháp lý mang tính chất công, được thực hiện một số công việc theo Điều 3 Nghị định 61/2009/NĐ-CPcủa Chính phủ:

  • Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc Cơ quan thi hành án dân sự;
  • Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức;
  • Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự;
  • Trực tiếp tổ chức thi hành án các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự. Thừa phát lại không tổ chức thi hành án các bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án.

Bên cạnh đó thì Thừa phát lại cũng bị giới hạn bởi những việc không được làm như sau:

  • Không được tiết lộ thông tin về việc thực hiện công việc của mình, trừ trường hợp pháp luật cho phép.
  • Thừa phát lại không được đòi hỏi bất kỳ khoản lợi ích vật chất nào khác ngoài chi phí đã được ghi nhận trong hợp đồng.
  • Trong khi thực thi nhiệm vụ của mình, Thừa phát lại không được nhận làm những việc liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người là người thân thích của mình, bao gồm: Vợ, chồng, con đẻ, con nuôi; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của Thừa phát lại, của vợ hoặc chồng của Thừa phát lại; cháu ruột mà Thừa phát lại là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì.
  • Các công việc bị cấm khác theo quy định của pháp luật.

Tiếp nối phần trên thì nội dung của phần viết này sẽ tập trung vào các hoạt động của thừa phát lại. Đầu tiên là hoạt động lập vi bằng:

 

Trước tiên sơ lược lại định nghĩa của vi bằng thì tại Khoản 2 Điều 2 Nghị định 61/2009/NĐ-CP có quy định "Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác”. Và tại Điều 7 Thông tư liên tịch 09/2014/TTLT-BTP-TANDTC- VKSNDTC- BTC quy định: "Vi bằng do thừa phát lại lập là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án và là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp theo quy định của pháp luật."

  • Vi bằng có thể là một tài liệu bằng văn bản có hình ảnh, video, âm thanh kèm theo (nếu cần thiết). Trong tài liệu đó, Thừa phát lại sẽ mô tả, ghi nhận lại hành vi, sự kiện lập vi bằng mà đích thân Thừa phát lại chứng kiến một cách trung thực, khách quan. Tài liệu này có giá trị chứng cứ trước Tòa án nếu các bên có phát sinh tranh chấp liên quan đến sự kiện, hành vi lập vi bằng.

Những trường hợp có thể yêu cầu Thừa phát lại lập vi bằng?
Căn cứ theo Điều 25 Nghị định 135/2013/NĐ-CP của Chính phủ thì Thừa phát lại được lập vi bằng các sự kiện, hành vi xảy ra trên địa bàn tỉnh nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại.
Một số trường hợp cụ thể như:
- Xác nhận tình trạng nhà khi mua nhà ;
- Xác nhận tình trạng tài sản trước khi ly hôn, thừa kế;
- Xác nhận các hành vi trái pháp luật trong lĩnh vực tin học, báo chí, phát thanh, truyền hình như: đưa các thông tin không đúng sự thực; đưa thông tin khi chưa được phép người có thẩm quyền; vu khống…
- Xác nhận tình trạng thiệt hại của cá nhân, tổ chức do người khác gây ra;
- Xác nhận các sự kiện pháp lý khác theo quy định của pháp luật,....

Từ đó ta cũng thấy sẽ xuất hiện 2 loại vi bằng cơ bản đó là: Vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi và Vi bằng ghi nhận hiện trạng.

Ví dụ 1: Ông A muốn đặt cọc một số tiền cho ông B để thực hiện việc mua nhà của ông B. Để đảm bảo về mặt pháp lý và tránh rủi ro ông A có thể đến Văn phòng Thừa phát lại để lập vi bằng liên quan đến hành vi giao nhận tiền đặt cọc giữa 2 bên. Vi bằng này được đăng ký tại Sở tư pháp trong vòng 3 ngày kể từ ngày lập.

Ví dụ 2: Ông A có 1 căn nhà muốn cho ông B thuê để kinh doanh, nhưng để đảm bảo khi ông B dọn vào nhà sẽ không khiếu kiện các tranh chấp như hiện trạng ngôi nhà, nội thất, vật dụng dụng bên trong căn nhà thì ông A sẽ đến Văn phòng Thừa phát lại để lập vi bằng ghi nhận hiện trạng căn nhà trên trước thời điểm Ông B dọn vào.

Tiếp theo phải kể đến hoạt động tống đạt giấy tờ của thừa phát lại - tống đạt các văn bản của tòa án. Đây cũng là nét mới đối với việc tạo nên nề nếp, xác tín trong việc chuyển các văn bản của tòa án tới đương sự. Trước đây việc tống đạt các văn bản của tòa án thường gửi qua bưu điện hoặc trong trường hợp cần thiết là do thư ký tòa án đi tống đạt trực tiếp cho đương sự. Tuy nhiên nhiều trường hợp, nếu văn bản của tòa án không biết có tới được đương sự hay không gây nên việc phải hoãn xét xử, hoãn phiên tòa, do vậy việc tống đạt các văn bản của tòa tới các đương sự có giá trị và ý nghĩa rất lớn.

Việc giao cho thừa phát lại tống đạt các văn bản của tòa án lại được thực hiện theo những thủ tục được quy định chặt chẽ, có các biểu mẫu cụ thể và có đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp (thư ký nghiệp vụ của thừa phát lại) để đem đến tận nơi cho đương sự. Một hoạt động mang tính chuyên nghiệp và cũng góp phần giúp các vụ án được phân xử nhanh hơn.

Những hoạt động khác như thi hành án dân sự,.. cũng có những ý nghĩa pháp lý riêng và theo mình thấy thì các văn phòng thừa phát lại được thí điểm ở các nơi hiện nay đang giúp ích rất nhiều cho các hoạt động pháp lý. Một phần vì nó giúp giảm tải các hoạt động ở bộ máy tư pháp, một phần giúp người dân có thể bảo vệ quyền lợi của họ trước các phát sinh pháp lý.

"Bài viết có tham khảo từ các bình luận khoa học pháp lý​​​"​​​​

 

Theo LawNet
2.093 

Phạm Bá Phúc Phan Trần Hữu Nghĩa Trương Quang Việt Nguyễn Đình Tuệ Trần Nhật Tâm Nguyễn Hoàng Minh Bùi Văn Trương Nguyễn Đăng Triều Nguyễn Minh Hiền (Minh Hy) Vi Đức Giang Đào Duy Bình Huỳnh Văn Dương Hoàng Nông Xuân Mai Tuấn Anh Lê Trọng Huy Nghiêm Ngọc Thế Anh Trần Hà Nguyễn Huy Tuấn Đặng Hoàng Quân Võ Thành Tài Trần Văn Tùng Phạm Tú Đào Duy Bình Huỳnh Hồ Trung Lương Minh Hải Phan Thành Danh Trần Ngọc Triết Võ Thành Lợi Trần Mạnh Hùng Thai Tran Quoc Lê Quyết Thắng Bùi Mạnh Phú Nguyễn Anh Tuấn Lê Văn Luân Phạm Đức Thịnh Võ Thị Kim Anh Nguyễn Thị Thu Hiền CAO HOÀNG PHƯƠNG UYÊN Nguyễn Thị Nhàn Hoàng Thị Hoà Thanh Hương Nguyễn Thị Phương Huyền Nguyễn Hồng Anh Bùi Nguyễn Ngọc Thương Lê Thị Ngọc Tuyết Phạm Thu Giang Nguyễn Anh Thư Từ Thị Mận Nguyễn Thị Thanh Tuyền Vũ Thanh Tâm Lại Thị Phương Nhung Đặng Thị Thùy Trâm Trịnh Thùy Trang Huỳnh Thị Thu Ngân Hà Hoàng Hạc Phượng Thư Ngô Đình Trị An Vương Thị Hồng Thuý Lê Trần Mỹ Duyên Dương Đình Phương Uyên Đinh Mỹ Linh Trần Thị Vân Huyền Phạm Thị Bé Hà Thị Thu Giang Lâm Thị Sa Ly Chu Hoàng Minh Tâm Hồ Thị Mỹ Linh Cao Thị Hải Yến Pham Thu Van Nguyễn Huỳnh Thu Hà Nguyễn Thị Hồng Anh Lại Thị Phương Nhung Phó Thị Thanh Hà Hoàng Thị Vân Anh Phan Thị Ngọc Hiếu Lê Ngọc Hương Quyền Nguyễn Thị Thùy Nga Huỳnh Mỹ Chu Nguyễn Khuyên Lê Thị Hoàng Nhi Nguyễn Thị Tuyết Nhung Lê Mai Anh Lê Thị Hương Lan Nguyễn Thị Thanh Thúy Trần Nhã Tú Nguyễn Thị Kim Ny Phạm Ngọc Thảo Trần Hoàng Phương Dung Phùng Hoa Kim Huệ Nhung Lại Thị Phương Nguyệt Hr Trần Thị Quỳnh Trang Trần Thị Bích Tuyền Mai Hoàng Trang