Tổng luận Hội thảo “Vấn đề lao động và việc làm ở tỉnh Cà Mau - Những thách thức và giải pháp”

Qua gần 6 tháng chuẩn bị nội dung và hôm nay (17/11/2017) qua gần một buổi làm việc khẩn trương, nghiêm túc và đầy tinh thần trách nhiệm, hội thảo đã hoàn thành tương đối tốt nội dung chương trình đề ra.

Tham luận gửi về Ban Tổ chức Hội thảo có 31 bài, tại hội thảo trình bày được 08 bài mang tính đại diện; có 02 ý kiến thảo luận nêu nhiều vấn đề có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Thay mặt Ban tổ chức Hội thảo, tôi xin có một số nhận xét, đánh giá như sau:

I. VỀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM Ở TỈNH CÀ MAU

1. Nguồn lao động ở Cà Mau tương đối dồi dào

Tính từ 15 tuổi trở lên:

- Tổng số lao động là: 708.601 người, chiếm 57,95% dân số. Trong đó: Lao động nam: 404.795, chiếm 57,12%; lao động nữ: 303.806, chiếm 42,88%. Lao động ở thành thị: 148.735 lao động, chiếm 20,99%. Lao động ở nông thôn: 559.866 lao động, chiếm 79,01%.

- Tổng số cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Cà Mau là 25.889 (tính đến ngày 01/01/2017), trong đó có: 09 Tiến sĩ (chiếm 0,03%), 596 Thạc sĩ (chiếm 2,30 %)...

2. Về  học nghề

Trên địa bàn tỉnh có 21 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó có: 09 trung tâm giáo dục nghề nghiệp của 09 huyện, thành phố; 03 trường Cao đẳng; 01 trường Trung cấp; 01 trung tâm; 04 Hội đoàn thể và có 03 cơ sở đào tạo ngoài công lập. Riêng 09 trung tâm giáo dục nghề nghiệp các huyện, thành phố được đầu tư cơ bản về cơ sở vật chất và trang thiết bị đào tạo.

Từ năm 2010 – 2016 đã thực hiện đào tạo và bồi dưỡng cho 226.616 người. Trong đó: Trung cấp nghề và cao đẳng nghề: 8.567 người, đào tạo nghề theo Quyết định số 1956 là 76.202 người, đào tạo và bồi dưỡng dưới 03 tháng: 141.847 người. Triển khai, thực hiện tương đối tốt các chính sách ưu tiên đào tạo nghề cho người lao động như: người có công, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ dân tộc thiểu số, người khuyết tật…

Thời gian qua, Trung ương đã hỗ trợ kinh phí đào tạo và cải tạo nâng cấp cơ sở vật chất, đầu tư thiết bị đào tạo cho các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp đã tạo điều kiện cho tỉnh phát triển lĩnh vực đào tạo nghề. Ngoài nguồn kinh phí của Trung ương, tỉnh cũng đã dành một khoản ngân sách hỗ trợ đào tạo và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất thiết bị hoạt động, giúp các cơ sở đào tạo hoạt động ổn định đi vào nề nếp. Với tổng nguồn kinh phí thực hiện là 127,5 tỷ đồng, trong đó: vốn từ Trung ương 72,5 tỷ đồng, vốn ngân sách địa phương 55 tỷ đồng.

3. Về giải quyết việc làm

Trong những năm gần đây, tỉnh Cà Mau đã có những cố gắng trong công tác giải quyết việc làm, tạo việc làm mới cho người lao động: Tỉnh đã chú trọng thực hiện các giải pháp, chính sách hỗ trợ người lao động tự tìm kiếm việc làm như tuyên truyền phổ biến chính sách hỗ trợ tạo việc làm, hỗ trợ vay vốn ưu đãi từ quỹ quốc gia về việc làm; kết nối thông tin người sử dụng lao động với người lao động qua các hội nghị phổ biến thông tin thị trường lao động, phiên giao dịch việc làm; chú trọng liên kết với các tỉnh bạn có nhiều doanh nghiệp, khu công nghiệp để cung ứng lao động, giới thiệu việc làm trong nước, đồng thời tuyển chọn và đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng để giảm sức ép về việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động.

Tạo việc làm mới và ổn định việc làm hàng năm cho khoảng 37.000 lao động, trong đó xuất khẩu lao động khoảng 50 người, cung ứng lao động và giới thiệu việc làm trong nước trên 20.000 người. Qua đó, đã góp phần tích cực vào công tác giảm nghèo bền vững tại địa phương, từ 12,14% năm 2011 giảm còn 7,96% năm 2016. Thu nhập bình quân đầu người toàn tỉnh năm 2005 đạt khoảng 1.142 USD, năm 2016 tăng lên 1.695USD (quy đổi), tăng bình quân hàng năm khoảng 15%.

II. VỀ HẠN CHẾ, KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC TRONG VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM Ở TỈNH CÀ MAU

Tăng cường tập huấn, đào tạo nghề cho lao động nông thôn sẽ giải quyết tốt việc làm cho lực lượng lao động dồi dào nhưng thiếu kỹ năng lao động. - Ảnh: Thanh Trà

1. Lực lượng lao động phân bổ không đồng đều; cơ cấu lao động của tỉnh còn lạc hậu: số lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản và lâm nghiệp chiếm tỷ trọng cao 58% ; nhóm ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 20% và thương mại dịch vụ chiếm 22%.

2. Về phân bố ngành nghề trong lao động nông thôn cho thấy sự mất cân đối trầm trọng. Lao động nông nghiệp, nông thôn của Cà Mau tập trung chủ yếu vào trồng trọt và nuôi trồng thủy sản trong khi chăn nuôi vẫn chỉ được coi là nghề phụ của các hộ gia đình, nuôi theo tập quán cũ, theo kinh nghiệm mà chưa áp dụng  tiến bộ khoa học kỹ thuật.

3. Chất lượng lao động thấp, năng suất lao động bình quân của toàn tỉnh thấp hơn bình quân cả nước: Giá trị năng suất lao động của tỉnh đạt 67 triệu đồng/người/năm (toàn quốc là 74,3 triệu đồng/người/năm).

4. Trình độ học vấn của lực lượng lao động khu vực nông thôn rất thấp, thấp hơn nhiều so với lực lượng lao động khu vực thành thị. Tỷ lệ người chưa tốt nghiệp tiểu học vẫn còn cao. Trình độ học vấn và kỹ thuật của lực lượng lao động trong độ tuổi tương đối thấp: Đa số là lao động phổ thông (chiếm 64%), thiếu đội ngũ công nhân lành nghề; trình độ ngoại ngữ rất hạn chế. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề còn thấp (khoảng 36%).

Thiết bị dạy nghề không đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề cho người học, nên số lao động sau học nghề không đáp ứng được yêu cầu vận hành thiết bị, máy móc hiện đại của doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, một số ngành nghề đào tạo chỉ để giải quyết việc làm tại chỗ. Nhận thức của một bộ phận người dân hiện nay về đào tạo nghề còn hạn chế, Sự quan tâm của các cấp, các ngành, của một số ít cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, đầy đủ về dạy nghề, sau học nghề học viên thiếu vốn để khởi nghiệp, mở rộng sản xuất phù hợp với nghề đã học. Phối hợp giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp trong đào tạo nghề chưa tốt.

5. Thể chất của lực lượng lao động còn yếu, mặc dù thời gian qua đã được cải thiện ở các khía cạnh tầm vóc, sức khoẻ, sức bền, khả năng chịu áp lực…

6. Tỷ lệ lao động thất nghiệp 2,38% (khu vực thành thị 1,63%, khu vực nông thôn 2,58%); hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng năm cao.

III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ MANG TÍNH GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CHÍNH PHỦ, TỈNH ỦY, UBND TỈNH, CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ CÁC SỞ, NGÀNH CÓ LIÊN QUAN

1. Tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự phối hợp trách nhiệm của các ngành chức năng, của các đoàn thể chính trị - xã hội, các doanh nghiệp đối với công tác dạy nghề và giải quyết việc làm. Làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục để mọi người dân, nhất là lực lượng lao động có nhận thức đúng đắn về học nghề và giải quyết việc làm. Tiếp tục triển khai, quán triệt sâu rộng Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết đinh 1956 và Quyết định 971 sửa đổi, bổ sung Quyết định 1956 của Thủ tướng Chính phủ giai đoạn tiếp theo. Tăng cường tuyên truyền rộng rãi đến mọi người dân về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác đào tạo nghề cho người khuyết tật, trong đó chú trọng nâng cao nhận thức, năng lực của người khuyết tật về tầm quan trọng của học nghề.

2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao trình độ học vấn dân cư, nâng cao trình độ chuyên môn – kỹ thuật cho người lao động. Nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động; thể chất người lao động. Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ một cách hiệu quả, tránh chồng chéo, lãng phí nguồn lực trong công tác đào tạo, tuyển dụng, sử dụng.

Các doanh nghiệp cần phối hợp tốt với các cơ sở đào tạo để đặt hàng đào tạo nghề theo địa chỉ góp phần giải quyết việc làm cho người lao động đúng với kỹ năng, chuyên môn được đào tạo. - Ảnh: Thanh Trà

3. Thường xuyên cải tiến nội dung, chương trình, phương châm, phương pháp giảng dạy, học tập; xác định ngành nghề đào tạo trên cơ sở khảo sát nhu cầu thực tế. Thường xuyên phối hợp đánh giá, cấp chứng chỉ nghề quốc gia cho người lao động. Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để thu hút các tổ chức đào tạo có uy tín, các nhà giáo, nhà khoa học có tài năng và kinh nghiệm tham gia vào quá trình đào tạo nhân lực tại Cà Mau. Thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề, đáp ứng nhu cầu cho công tác giảng dạy; tạo điều kiện cho cán bộ làm công tác dạy nghề được tập huấn chuyên môn nghiệp vụ; được tham quan thực tế sản xuất.

4. Đa dạng các loại hình dạy nghề; khuyến khích các tổ chức, cá nhân mở cơ sở dạy nghề; có chính sách miễn thuế, cho thuê đất, thuê cơ sở với giá ưu đãi. Tổ chức đào tạo, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động, gắn chặt với yêu cầu phát triển, phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động. Mở rộng các hình thức liên kết đào tạo nghề, đẩy mạnh xã hội hóa đào tạo nghề để tăng nhanh quy mô, mở rộng ngành nghề đào tạo và nâng cao chất lượng lao động. Liên kết với các trường, các cơ sở đào tạo nghề ngoài tỉnh đào tạo những nghề, trình độ mà các trường, các trung tâm đào tạo trong tỉnh không thể đào tạo. Phối hợp chặt chẻ với các doanh nghiệp trong dạy nghề.

5. Làm tốt công tác hướng nghiệp, phân luồng học sinh nhất là đối với số học sinh các lớp cuối cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học. Tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách ưu đãi đối với sinh viên tốt nghiệp có nhu cầu vay vốn để tự tạo việc làm.

6. Để thực hiện tốt lao động có việc làm sau đào tạo và để nâng cao giá trị chất lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ, tăng khả năng cạnh tranh, đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động, đề nghị Chính phủ ban hành danh mục một số ngành nghề bắt buộc người lao động phải qua đào tạo mới được hành nghề.

7. Cần có cơ chế chính sách mạnh để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động sau khi học nghề. Các chính sách giảm thuế thu nhập doanh nghiệp tính trên số lượng lao động được đào tạo (số có chứng chỉ nghề và được ký hợp đồng lao động tuyển vào làm việc), chính sách hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề khi doanh nghiệp tham gia hoặc trực tiếp thực hiện. Doanh nghiệp cần đặt hàng đào tạo nhân lực đối với cơ sở đào tạo. Trong việc đánh giá, xếp hạng doanh nghiệp cần có tiêu chí tham gia vào công tác đào tạo nhân lực.

8. Kiến nghị Chính phủ và đề nghị UBND tỉnh xem xét điều chỉnh chế độ chính sách học nghề đối với những người học nghề đã hết tuổi lao động mà sức khỏe đảm bảo, họ muốn tham gia học nghề để làm kinh tế gia đình, kinh tế trang trại. Xem xét cấp chứng chỉ hành nghề và chứng chỉ học nghề đối với các nghề truyền thống đặc biệt (những nghề hiếm có) tạo điều kiện cho họ được truyền nghề và được học nghề đáp ứng nhu cầu lao động tại địa phương.

9. Đề nghị các ngành chức năng tiếp tục quan tâm xem xét và tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số được tham gia đào tạo nghề nhiều hơn, cũng như giúp cho họ có việc làm ổn định sau khi được đào tạo nghề. Đề nghị Các cơ quan và doanh nghiệp thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ người khuyết tật trong đào tạo nghề, các chính sách về việc làm, nên ưu tiên tuyển người khuyết tật nếu họ đáp ứng yêu cầu công việc.

10. Đối với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tăng cường tổ chức các lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho người lao động. Đối với chính quyền địa phương cần xác định được hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, từ đó đề xuất những ngành nghề phù hợp để đào tạo nghề. Đối với các Ngân hàng cần hỗ trợ vốn, cho vay với lãi xuất thấp cho các học viên sau khi học nghề để có vốn ứng dụng kiến thức đã học vào sản xuất, đời sống. Đối với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội liên kết với các nhà sử dụng lao động, thị trường lao động trong nước và kể cả ngoài nước, tổ chức nhiều phiên giao dịch giới thiệu việc làm cho người lao động biết tham gia tìm kiếm việc làm phù hợp với ngành nghề đã học. Xây dựng phần mền quản lý tình hình lao động, việc làm tại xã, phường, thị trấn và tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn.

11. Đẩy mạnh phát triển kinh tế, mở rộng ngành nghề, phát triển các làng nghề. Tư vấn giới thiệu việc làm cho người lao động tốt hơn, kịp thời hơn (cả trong nước, ngoài nước và ở địa phương).

12. Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề phù hợp với trình độ phát triển – đặc biệt là các trường, cơ sở giáo dục nghề nghiệp cấp huyện, thành phố. Chú ý lĩnh vực nghề chế biến, đánh bắt và khai thác thủy sản. Quản lý, sử dụng kinh phí đúng mục đích, kịp thời, hiệu quả.

13. Động viên khen thưởng kịp thời các cá nhân, tổ chức làm tốt công tác dạy nghề, giải quyết việc làm; thường xuyên tổ chức các hội thảo, đánh giá về hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn./.

                                                                                          Dương Việt Thắng

                                                           Trưởng Ban Tổ chức Hội thảo, Chủ tịch Liên hiệp Hội

2.076 
Click vào đây để xem danh sách 40 Việc làm Cà Mau đang tuyển dụng hoặc nhận thông báo thường xuyên thông tin về Việc làm Cà Mau