Nguồn gốc và những đặc trưng cơ bản của pháp luật

Pháp luật được coi là công cụ hữu hiệu quản lý tất cả các vấn đề trong xã hội. Trong đời sống hiện nay, mọi người sẽ bắt gặp thuật ngữ pháp luật thường xuyên. Nhưng không phải ai cũng hiểu rõ về khái niệm cũng như nguồn gốc của pháp luật.

Pháp luật là gì?

Ở Việt Nam hiện nay, trong giáo trình của các cơ sở đào tạo luật học cũng như trong sách báo pháp lí tồn tại nhiều định nghĩa về pháp luật dưới góc độ là pháp luật thực định. Tuy nhiên, có thể nói, các định nghĩa đó cơ bản chỉ khác nhau về câu chữ và thể hiện quan niệm về pháp luật với tư cách là một loại quy tắc ứng xử của con người, một loại chuẩn mực xã hội, pháp luật có những điểm khác biệt cơ bản so với các loại chuẩn mực xã hội khác như đạo đức, phong tục tập quán... Giáo trình này cũng quan niệm về pháp luật dưới góc độ tương tự, từ đó có thể hiểu:

Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, đảm bảo thực hiện, điều chỉnh các quan hệ xã hội, áp dụng trên phạm vi cả nước với mọi chủ thể.

Pháp luật bao gồm các quy phạm có tính pháp luật và tính đạo đức mang tính bắt buộc chung.

Với các quy định của pháp luật, một cá nhân, tổ chức không được đặt ý kiến chủ quan trong việc có thực hiện không. Vì vậy, nếu ai đó có hành vi chống đối, làm trái quy định của pháp luật cũng sẽ bị cưỡng chế.

Đây chính là yếu tố tạo nên sự công bằng bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cá nhân đối với quy định của pháp luật.

Như vậy, pháp luật thể hiện ý chí của Nhà nước, thông qua các quy định của pháp luật, người dân biết những việc phải làm, không được làm hoặc làm như thế nào?...

Những quy phạm pháp luật mang tính phổ biến cũng giống với đạo đức, tập quán, tôn giáo…

Tính quy phạm thể hiện ở chỗ là khuôn mẫu chung cho mọi người cùng thực hiện, tuân theo và áp dụng nhiều lần, ở nhiều nơi…

Nguồn gốc của pháp luật

Nguồn gốc của pháp luật được xem xét dưới 02 góc độ là theo quan niệm chung của xã hội và theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin:

Thứ nhất: Quan niệm chung về nguồn gốc của pháp luật

Ở xã hội cộng sản nguyên thủy, do nhu cầu của cuộc sống cộng đồng, các quan hệ xã hội giữa người và người được điều chỉnh bằng các quy tắc đạo đức, phong tục, tập quán và các quy tắc tông giáo.

Khi trong xã hội xuất hiện sở hữu tư nhân, sự phân chia giai cấp, người giàu, người nghèo, người bóc lột và bị bóc lột, đồng thời,  cũng nảy sinh những mâu thuẫn giai cấp đối kháng, đòi hỏi phải có những quy tắc xử sự mang tính bắt buột chung được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế đối với các thành viên trong xã hội và một tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt có bộ máy cưỡng chế đảm bảo cho các quy tắc xử sự đó được thực hiện.

Do đó, những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của Nhà nước cũng là những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của pháp luật. Pháp luật hình thành bằng ba con đường chủ yếu: Nhà nước thừa nhận những tập quán đã có từ trước phù hợp với lợi ích của mình và nâng lên thành pháp luật; Nhà nước thừa nhận các quyết định có trước về từng vụ việc cụ thể của cơ quan xét xử hoặc cơ quan hành chính cấp trên để trở thành khuôn mẫu cho các cơ quan cấp dưới tương ứng giải quyết những vụ việc tương tự xảy ra – Án lệ; Nhà nước ban hành những quy phạm pháp luật. Đó cũng chính là nguồn gốc của pháp luật.

Thứ hai: Nguồn gốc của pháp luật theo quan điểm chủ nghĩa Mác-lênin

Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng:

Cũng như Nhà nước, pháp luật là sản phẩm của sự phát triển xã hội. Pháp luật không phải là ý chí của thượng đế hay của một lực lượng siêu nhiên nào ngoài trái đất gán ghép vào xã hội.

Pháp luật nảy sinh trong đời sống xã hội, là kết quả của sự biến đổi xã hội từ xã hội không có giai cấp sang xã hội có giai cấp:

– Trong xã hội nguyên thủy chưa có Nhà nước thì cũng chưa có pháp luật. Để quản lý, điều chỉnh các quan hệ xã hội khi đó người ta dựa vào tập quán, đạo đức, tín điều tôn giái… Là những công cụ điều chỉnh thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích chung của các thành viên trong xã hội nên được mọi người thừa nhận và tự giác tuân theo.

– Nguyên nhân làm xuất hiện Nhà nước cũng chính là nguyên nhân làm xuất hiện pháp luật, nghĩa là, khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định (xem nguyên nhân xuất hiện Nhà nước) thì những công cụ quản lý như đạo đức, tập quán, tín điều tôn giáo… Không còn khả năng hoặc không thể duy trì quản lý xã hội được nữa, vì ý chí các thành viên trong xã hội không còn thống nhất; lợi ích các giai cấp trong xã hội đã có sự khác biệt căn bản, thậm chí đối lập với nhau. Trong điều kiện đó, để có thể giữ cho xã hội trong vòng “trật tự”, đồng thời bảo vệ được lợi ích của giai cấp mình, giai cấp, lực lượng thống trọ đã thông qua Nhà nước hình thành ra một công cụ điều chỉnh mới là pháp luật.

Do đó, pháp luật ra đời do nhu cầu xã hội để quản lý một xã hội đã phát triển ở một giai đoạn nhất định, giai đoạn xã hội đã phát triển quá phức tạp, đã xuất hiện những giai cấp có lợi ích đối lập với nhau và nhu cầu chính trị – giai cấp để bảo vệ lợi ích cho giai cấp, lực lượng thống trị về kinh tế và chính trị trong xã hội.

Theo quan điểm Mác-Lênin thì pháp luật ra đời và tồn tại gắn liền với xã hội có giai cấp, nó là sản phẩm của sự phát triển xã hội vừa mang tính khách quan (sinh ra do nhu cầu đòi hỏi của xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định) vừa mang tính chủ quan (phụ thuộc ý chí Nhà nước của giai cấp, lực lượng thống trị).

Đặc điểm của pháp luật là gì?

Pháp luật có những đặc trưng riêng biệt sau đây:

1. Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền ban hành pháp luật

Để ban hành pháp luật, phải trải qua các quy trình, thủ tục với sự tham gia làm việc của nhiều chủ thể như tổ chức, cá nhân, cơ quan nhà nước để đảm bảo được nội dung của pháp luật luôn có tính chặt chẽ và khả năng áp dụng rộng rãi.

Nhà nước còn có thể thừa nhận các tập quán trong xã hội trong luật thành văn.

2. Mang tính quy phạm phổ biến

Pháp luật không áp dụng riêng co tổ chức, cá nhân nào mà được áp dụng rộng rãi cho tất cả mọi người trong xã hội.

Các công dân có nghĩa vụ và trách nhiệm tuân thủ quy định của pháp luật đã được ban hành.

3. Được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực Nhà nước

Vì là quy tắc xử sự trong xã hội nên pháp luật được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng nhiều biện pháp tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế.

Biện pháp cưỡng chế khi chống đối pháp luật rất nghiêm khắc, nhẹ thì phạt tiền, nặng thì phạt tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình tùy theo mức độ vi phạm.

4. Có tính hệ thống

Pháp luật là một hệ thống các quy phạm quy tắc xử sự chung, các nguyên tắc, khái niệm pháp lí... Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng cách tác động lên cách xử sự của các chủ thể tham gia và làm cho quan hệ xã hội phát triển theo chiều hướng Nhà nước mong muốn.

Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực khác nhau nhưng các quy định của pháp luật không tồn tại biệt lập, đơn lẻ mà có mối liên hệ mật thiết với nhau, tạo nên chỉnh thể thống nhất.

5. Pháp luật được thể hiện bằng văn bản, chặt chẽ về hình thức

Pháp luật được thể hiện bằng hình thức văn bản. Các văn bản quy phạm pháp luật được quy định rõ rang, chặt chẽ và cụ thể tại các điểm, khoản, Điều thuộc các Nghị định, Quyết định, Thông tư, Chỉ thị…

Việc quy định chặt chẽ, cụ thể, không trừu tượng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong quá trình thực hiện pháp luật cũng như quá trình áp dụng, giải quyết của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đảm bảo thực hiện thống nhất trong toàn xã hội.

Vai trò của pháp luật hiện nay là gì?

Từ những phân tích trên, có thể thấy pháp luật có vai trò rất quan trọng.

- Với Nhà nước: Pháp luật là công cụ hữu hiệu quản lý tất cả các vấn đề trong xã hội.

Người dân nếu không chấp hành, chấp hành sai các quy định của pháp luật sẽ bị xử lý.

- Với công dân: Pháp luật là phương tiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

Pháp luật đảm bảo cho công dân thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định.

- Với toàn xã hội: Pháp luật đảm bảo sự vận hành của toàn xã hội, đồng thời tạo lập, duy trì sự bình đẳng.

Pháp luật mang bản chất giai cấp đúng không?

Pháp luật do Nhà nước, đại diện cho giai cấp cầm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện nên pháp luật mang bản chất giai cấp.

Bản chất giai cấp là biểu hiện chung của các kiểu pháp luật nhưng mỗi kiểu pháp luật lại có biểu hiện, đặc trưng riêng.

Pháp luật tư sản: Nhân dân được hưởng các quyền tự do, dân chủ nhưng về cơ bản vẫn thực hiện ý chí, phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản;

Pháp luật xã hội chủ nghĩa: Mang bản chất của giai cấp công nhân, đại diện là Nhà nước của nhân dân lao động.

Theo Tổng hợp
2.170 

Nguyễn Minh Nhật Nguyễn Trung Tín Nông Tuấn Sang Nguyễn Xuân Thủy Nguyễn Xuân Thanh Nguyễn Nghĩa Lê Trường Sơn Dương Trùng Dương Nguyễn Quốc Việt Nguyễn Ngọc Tài Nguyễn Xuân Thành Dương Đức Tùng Lê Thanh Nhàn Nông Thanh Phong Điền Thanh Dương Nguyễn Thy San Phạm Quốc Phát Nguyễn Tiến Thành Phan Bảo Tiến Nguyễn Ngọc Lân Nguyễn Minh Hoàng Phan Hưng TRẦN NGỌC TIN Đoàn Ngọc Việt Anh Đỗ Công Phúc Trần Minh Cảnh Nguyễn Nhật Quang Hoàng Tuấn Anh Trần Hữu Hào Hoàng Nguyễn Khương Duy Châu Hoàng Tiến Huỳnh Trọng Quang Trần Xuân Phiêu Nguyễn Trọng Khiêm Trần Viết Dũng Vũ Tuấn Dũng Đỗ Trung Kiên Danh Thị Mỹ Lộc Đào Thị Kim Liên Phan Thảo Nguyễn Thị Ngọc Mỹ Lê Thị Phương Thảo Nguyễn Thụy Thùy Duyên Phạm Thị Thiết Vũ Thùy Trang Nguyễn Thị Mai Quỳnh Trần Minh Ngọc Vũ Thị Hải Hà Đào Mai Hương Nguyễn Diệu Linh Lê Thị Hồng Hường Phan Ngọc Kiều Lê Thị Ngọc Lan Trần Thị Thanh Thảo Lê Trần Bách Hợp Lê Thị Thuỳ Lưu Hằng Phuong Uyen Đào Mai Hương Nguyễn Thị Thu Hiền Nguyễn Thị Hảo Ngô Thị Thu Uyên My Hoang Nguyễn Thị Thu Trinh Phạm Thị Mỹ Linh Nguyễn Qúi Hiền Nguyễn Thị Ngọc Trang Nguyễn Phương Dung Vi Thị Phường Nguyễn Thị Minh Thư Tô Kim Phụng Nguyễn Thị Mộng Tuyền Nguyễn Ngọc Gấm Nguyễn Thanh Uyên Bùi Thị Kim Dung Bùi Thị Nguyệt Nguyễn Thị Diệu Hân Đào Thị Ý Như Phạm Kim Ngân Nguyễn Thị Bích Dung Nguyễn Thị Thanh Tú Dương Thị Thanh Nga Pham Thi Nu Huỳnh Thị Tường Vy Võ Thắng Bùi Thị Kim Dung Nguyễn Thanh Thủy Vũ Thị Thảo Lê Thị Mỹ Dung Lê Như Nguyễn Thị Thu Thảo Đoàn Thị Hải Hà Phạm Nguyện Khánh Ngân Nguyễn Ngọc Đông Anh Lê Thanh Hiền Nguyễn Thị Kim Ngân Hoàng Hồng Mai Đinh Thị Thanh Nguyệt Thùy Linh Vũ Hoàng Thị Kiều Trang Nguyễn Minh Tuyền Nguyễn Thị Thu Thảo Tạ Thị Trường Giang Bùi Thị Mai Thanh Đào Thị Kim Liên Đặng Hải Vân Phạm Thị Vui Đinh Thị Hiển Hoàng Ngọc Thanh Hồ Thị Mỹ Duyên Nguyen Lan Anh Vũ Thị Phương Anh Võ Hoàng Kim Kim Trần Thị Rỡ Võ Thị Yến Nhi Bùi Minh Ngọc Nguyễn Tuyết Anh Nguyễn Dạ Lam Nguyễn Thị Anh Thư Nguyễn Ngọc Trân Phan Ngọc Kiều Lê Thị Mỹ Phương Vũ Thị Huyền Thương