Doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn phải bồi thường cho người lao động như thế nào?

(có 1 đánh giá)

Em ơi cho anh hỏi: Doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn thì có phải bồi thường cho người lao động không? Nếu có thì phải bồi thường như thế nào vậy em? Đây là câu hỏi của anh A.G đến từ Tp.HCM.

Chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn là gì?

Chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn là việc các bên chấm dứt thực hiện thỏa thuận đã giao kết, dẫn đến việc các bên trong hợp đồng chấm dứt hoàn toàn việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên.

Theo Bộ luật Lao động 2019, cả người lao động và người sử dụng lao động đều có quyền chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn. Tuy vậy, khi yêu cầu chấm dứt hợp đồng trước thời hạn thì các bên cần thực hiện đúng quy định pháp luật.

Doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn phải bồi thường cho người lao động như thế nào?

Doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn phải bồi thường cho người lao động như thế nào? (Hình từ Internet)

Người lao động muốn chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn phải báo trước cho doanh nghiệp bao nhiêu ngày?

Theo Điều 35 Bộ luật Lao động 2019 thì người lao động có thể chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn nếu cảm thấy công việc không phù hợp, hoặc gặp vướng bận không thể hoàn thành tốt công việc. Thời hạn báo trước dao động từ 3 đến 45 ngày (trừ một số công việc đặc thù theo quy định của Chính phủ), theo từng loại hình hợp đồng, cụ thể:

- Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

- Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

- Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

- Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Và người lao động có quyền chấm dứt hợp đồng lao trước thời hạn động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:

- Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

- Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;

- Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

- Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

- Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

- Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

- Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

Doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn phải bồi thường cho người lao động như thế nào?

Thì căn cứ theo Điều 41 Bộ luật Lao động 2019 quy định như sau:

Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.

Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.”

Theo đó, nếu doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn thuộc các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì mới phải bồi thường và sẽ bồi thường những khoản sau:

(1) Phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Tuy nhiên nếu doanh nghiệp nhận người lao động quay lại làm việc thì người lao động sẽ hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận.

Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

(2) Đối với trường hợp nhân viên không muốn quay trở lại làm việc thì công ty phải trả các khoản gồm: các khoản tại mục (1) và trợ cấp thôi việc;

(3) Đối với trường hợp công ty không muốn nhận lại nhân viên và nhân viên đồng ý thì công ty sẽ bồi thường các khoản sau: các khoản tại mục (1); trợ cấp thôi việc và một khoản ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

(có 1 đánh giá)
Nguyễn Nhật Vy
Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của NHÂN LỰC NGÀNH LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email info@nhanlucnganhluat.vn.
2.102