Luật sư có được từ chối tiếp nhận vụ việc của khách hàng không? Nếu được thì từ chối trong trường hợp nào?

(có 2 đánh giá)

Em ơi cho anh hỏi: Luật sư có được từ chối tiếp nhận vụ việc của khách hàng không? Nếu được thì từ chối tiếp nhận vụ việc của khách hàng trong trường hợp nào vậy em? Đây là câu hỏi của anh A.S đến từ Tp.HCM.

Luật sư có được từ chối tiếp nhận vụ việc của khách hàng không?

Luật sư có được từ chối tiếp nhận vụ việc của khách hàng không, thì căn cứ theo Quy tắc 10 Bộ đạo đức nghề nghiệp ban hành kèm theo Quyết định 201/QĐ-HĐLSTQ năm 2019 như sau:

Quy tắc 10. Tiếp nhận vụ việc của khách hàng

10.1. Khi được khách hàng yêu cầu tiếp nhận vụ việc, luật sư cần nhanh chóng trả lời cho khách hàng biết về việc có tiếp nhận vụ việc hay không.

10.2. Luật sư không phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, tôn giáo, quốc tịch, tuổi tác, sức khỏe, khuyết tật, tình trạng tài sản của khách hàng khi tiếp nhận vụ việc. Trường hợp biết khách hàng thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí thì luật sư thông báo cho họ biết.

10.3. Luật sư chỉ nhận vụ việc theo điều kiện, khả năng chuyên môn của mình và thực hiện vụ việc trong phạm vi yêu cầu hợp pháp của khách hàng.

10.4. Luật sư có nghĩa vụ giải thích cho khách hàng biết về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của họ trong quan hệ với luật sư; về tính hợp pháp trong yêu cầu của khách hàng; những khó khăn, thuận lợi có thể lường trước được trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý; quyền khiếu nại và thủ tục giải quyết khiếu nại của khách hàng đối với luật sư.

10.5. Khi nhận vụ việc của khách hàng, luật sư phải ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Trong hợp đồng dịch vụ pháp lý phải xác định rõ yêu cầu của khách hàng, mức thù lao và những nội dung chính khác mà hợp đồng dịch vụ pháp lý phải có theo quy định của pháp luật.”

Theo đó, luật sự khi được khách hàng yêu cầu tiếp nhận vụ việc, luật sư cần nhanh chóng trả lời cho khách hàng biết về việc có tiếp nhận vụ việc hay không.

Như vậy, có thể hiểu luật sư có quyền từ chối tiếp nhận vụ việc của khách hàng và phải nhanh chóng trả lời cho khách hàng biết.

Luật sư có được từ chối tiếp nhận vụ việc của khách hàng không? Nếu được thì từ chối trong trường hợp nào?

Luật sư có được từ chối tiếp nhận vụ việc của khách hàng không? Nếu được thì từ chối trong trường hợp nào? (Hình từ Internet)

Những trường hợp luật sư phải từ chối tiếp nhận vụ việc của khách hàng?

Luật sư phải từ chối tiếp nhận vụ việc của khách hàng trong những trường hợp được quy định tại Quy tắc 11 Bộ đạo đức nghề nghiệp ban hành kèm theo Quyết định 201/QĐ-HĐLSTQ năm 2019 gồm:

(1) Khách hàng thông qua người khác yêu cầu luật sư mà luật sư biết rõ người này có biểu hiện lợi dụng tư cách đại diện cho khách hàng để mưu cầu lợi ích không chính đáng làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của khách hàng.

(2) Khách hàng yêu cầu dịch vụ pháp lý của luật sư mà luật sư biết rõ khách hàng có ý định lợi dụng dịch vụ đó cho mục đích vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc khách hàng không tự nguyện mà bị phụ thuộc theo yêu cầu của người khác.

(3) Có căn cứ rõ ràng xác định khách hàng đã cung cấp chứng cứ giả hoặc yêu cầu của khách hàng trái đạo đức, vi phạm điều cấm của pháp luật.

(4) Vụ việc của khách hàng có xung đột về lợi ích theo quy định tại Quy tắc 15 Bộ đạo đức nghề nghiệp ban hành kèm theo Quyết định 201/QĐ-HĐLSTQ.

10 điều Luật sư không được làm gì trong quan hệ với khách hàng?

Trong quan hệ với khách hàng luật sư không được làm những việc được quy định tại Quy tắc 9 Bộ đạo đức nghề nghiệp ban hành kèm theo Quyết định 201/QĐ-HĐLSTQ năm 2019 gồm:

(1) Nhận, chiếm giữ, sử dụng tiền, tài sản của khách hàng trái với thỏa thuận giữa luật sư và khách hàng.

(2) Gợi ý, đặt điều kiện để khách hàng tặng cho tài sản hoặc lợi ích khác cho luật sư hoặc cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em của luật sư.

(3) Nhận tiền hoặc bất kỳ lợi ích nào khác từ người thứ ba để thực hiện hoặc không thực hiện công việc gây thiệt hại đến lợi ích của khách hàng.

(4) Tạo ra hoặc lợi dụng các tình huống xấu, những thông tin sai sự thật, không đầy đủ hoặc bất lợi cho khách hàng để gây áp lực nhằm tăng mức thù lao đã thỏa thuận hoặc có được lợi ích khác từ khách hàng.

(5) Sử dụng thông tin biết được từ vụ việc mà luật sư đảm nhận để mưu cầu lợi ích không chính đáng.

(6) Thông tin trực tiếp cho khách hàng hoặc dùng lời lẽ, hành vi ám chỉ để khách hàng biết về mối quan hệ cá nhân của luật sư với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác nhằm mục đích gây niềm tin với khách hàng về hiệu quả công việc hoặc nhằm mục đích bất hợp pháp khác.

(7) Cố ý đưa ra những thông tin làm cho khách hàng nhầm lẫn về khả năng và trình độ chuyên môn của mình để tạo niềm tin cho khách hàng ký kết hợp đồng.

(8) Hứa hẹn, cam kết bảo đảm kết quả vụ việc về những nội dung nằm ngoài khả năng, điều kiện thực hiện của luật sư.

(9) Lợi dụng nghề nghiệp để quan hệ tình cảm nam nữ bất chính với khách hàng.

(10) Lạm dụng các chức danh khác ngoài danh xung luật sư trong hoạt động hành nghề để mưu cầu lợi ích trái pháp luật.

(có 2 đánh giá)
Nguyễn Nhật Vy
Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của NHÂN LỰC NGÀNH LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email info@nhanlucnganhluat.vn.
2.175